.

.

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

Đá chữa bệnh

1. Khái quát
Từ “corundum” phát sinh từ tiếng Hy lạp “Kerand” hoặc “Kuruvinda”, sau này tên gọi corindon được người Ấn Độ miêu tả thành 2 thể loại, tuỳ theo màu sắc của nó: Ruby (rubinus) có nghĩa là màu đỏ và saphia (saphiarus) có nghĩa là màu lam.
Mãi đến năm 1800 người ta mới biết rằng ruby và saphia cùng thuộc về một nhóm. Tên saphia cũng theo tiếng Hy lạp, saphiarus có nghĩa là màu xanh lam.
Ngày nay chúng ta cũng quan niệm rằng loại có màu đỏ được gọi là ruby và màu lam gọi là saphia, còn những loại màu pha trộn khác gọi chung là corindon, hoặc saphia kèm theo tính từ chỉ màu sắc. Ví dụ: saphia lục, saphia vàng.

Tính chất chữa bệnh
Saphia có nhiều màu sắc được con người sử dụng từ 800 năm trước Công nguyên. Đá saphia có nhiều ở Ấn Độ, Miến Điện, Himalaya. Áp suất và nhiệt độ lòng đất làm cho ôxit nhôm kết tinh thành những viên đá saphia đẹp màu trắng. Một lượng nhỏ các khoáng chất khác, chẳng hạn sắt và crôm, làm cho saphia có sắc xanh, đỏ, vàng, hồng, tím, da cam hoặc lục nhạt. Người xưa quan niệm đeo đá saphia sẽ ngăn được ma quỷ. Có thời kỳ các thầy thuốc cổ đại dùng saphia để chữa các chứng bệnh liên quan đến cơ, xương khớp, đau đầu, đau bụng, chảy máu cam... 

Đá Ruby

Nói đến thạch anh tím (Tử Thủy Tinh Thạch), phải nói rằng đây là một loại đá nổi tiếng nhất trong họ thạch anh. Nó không những chỉ nổi tiếng về vẻ đẹp ‘thiên phú’ trong ngành nữ trang - đá quý, mà nó còn đại diện cho ‘Đỉnh Cao Trí Tuệ’ của nền Tâm Linh. Thạch anh tím được mệnh danh là ‘Thầy trong các bậc thầy’. Đây là một loại thạch vô cùng ‘huyền diệu’ giúp ích rất nhiều cho nhân loại nói riêng, vạn vật nói chung, trong nhiều lãnh vực thể xác lẫn tinh thần. Amethyst theo Hy Lap cổ đó là Amethustos – có nghĩa là ‘Bất say’ (không bị say) và rất được các triều đại vua chúa dùng để làm ly uống nước, uống rượu (vừa có thể giải được độc tố của rượu, vừa làm tăng phẩm chất của rượu). Màu tím của Amethyst theo tâm linh là màu sắc của ‘tối cao trí tuệ’ và ‘tình thương vô điều kiện’. Trong Phật giáo, đó là ánh hào quang phát ra, đại diện cho trí tuệ của Như Lai; trong Công giáo, đó là biểu trưng về tình thương bác ái của Chúa. Do đó, Amethyst dễ dàng hổ hợ người đeo hóa giải nhiều sự bế tắc về thể xác lẫn tinh thần. Có thể giúp giải trừ những sự chấp nê (dính mắc, nghiện ngập), tồn động trong tâm thức.

Khả năng trị liệu:
- Là loại thạch có khả năng thanh nhiệt, hạ số rất hay.
- Là loại thạch trợ giúp trong việc điều trị hay cắt cơn đau do phong thấp, nhức mỏi.
- Là loại thạch chuyên dùng để giải độc (do rượu, thuốc, á phiện, hóa chất, hormone…)
- Là loại thạch có tác dụng an thần, ổn định thần kinh, điều hòa huyết áp.
- Là loại thạch có khả năng kích thích hoạt động của tuyến Yên và Tùng và quân bình sự điều tiết hormone.


Thạch anh tím (Amethyst)

Thạch anh vàng (Hoàng Tinh Thạch) được mệnh danh là ‘Chiêu Tài Thạch’, một trong số các loại đá quý có khả năng ‘chiêu tài’ như Hoàng Bảo Thạch (Yellow Sapphire), Hổ Nhãn Thạch (Tiger’s Eye), Hoàng Thạch (Yellow Topaz), Hoàng Ngọc (Yellow Jade), Hoàng Mã Não (Yellow Agate)…
Khả năng trị liệu:
- Về mặt thể Lý (thân thể), Thạch anh vàng giúp ích rất nhiều trong việc điều trị bịnh chứng liên quan đến hệ thống tiêu hóa như đau bao tử, viêm loét dạ dày, bao tử, trướng thực…
- Về mặt cảm xúc, ánh sáng chói sáng của citrine như ánh mặt trời nên giúp cho người đầu óc minh mẫn sáng suốt. Chiếu rọi và thăng hoa tâm tính giúp người vui vẻ, cởi mở, lạc quan.

Trong khoa Phong Thủy, với biệt danh là ‘Chiêu Tài Thạch’, thạch anh vàng rất được yêu chuộng trong việc ‘chiêu tài, vượng tài’. Có thể dùng đặt để khu vực phòng khách, bàn làm việc, cung Tài bạch giúp vượng tăng ‘Tài khí’.



Thạch anh vàng (Citrine)




Thạch anh trắng (Minh Tinh Thạch) bao gồm nhiều sắc thái: không màu trong suốt, trắng, trắng đục. Loại không màu và trong suốt còn được gọi là thạch anh pha lê ‘Tinh khiết thạch’ – một biểu trưng của sự tinh khiết nên dễ dàng dung nạp – xuyên qua các vùng khí quang của cơ thể. Theo quang phổ học, màu trắng là tâp hợp của tất cả các màu sắc khác nhau nên có thể dùng thạch anh trắng để điều hòa năng lượng dư thừa hay khiếm khuyết của các màu sắc khác. Khí quang của thạch anh trắng vừa thanh vừa mát nên rất hiệu quả trong vấn đề ức chế các khối năng lượng có tính năng động như căng thẳng thần kinh, cao huyết áp, sốt, đau nhức cấp tính…

Khả năng trị liệu:
- Thanh nhiệt, hạ sốt.
- Ổn định thần kinh, điều hòa huyết áp.
- Cắt cơn đau, kháng viêm, chống sưng.
- Giải trừ mệt mỏi, trầm uất, căng thẳng.
- Giúp tập trung tư tưởng
- Giúp sự cảm nhận (rung động) tăng lên
- Phục hồi trí nhớ
- Chữa bệnh đãng trí
- Trợ giúp tìm người mất tích
- Kiềm hãm và chặn đứng những tính xấu – tâm ma trỗi dậy.
Ở Tây Tạng,  Mông Cổ và Trung Quốc cổ đại thầy thuốc đốt cháy vết thương bằng cách dùng ánh sáng mặt trời chiếu qua quả cầu bằng pha lê tự nhiên. Những nhà thạch trị liệu học ngày nay cho rằng, pha lê tự nhiên làm ổn định thể lực và trí lực của con người. Tinh thể pha lê tự nhiên hỗ trợ tốt cho tủy sống và hoạt động của não bộ,  giúp điều trị thiếu máu cục bộ giãn tĩnh mạch và có tác động tích cực đến hệ hô hấp. Bằng sự trợ giúp của pha lê có tác dụng làm giảm các cơn đau và điều trị stress.Pha lê tự nhiên có tác dụng làm giảm các cơn sốt. Những nhà cảm xạ học đặc biệt đánh giá cao thach anh nói chung và pha lê tự nhiên chúng tích rất nhiều năng lượng có ảnh hưởng tích cực đến các luân xa và sức khỏe.

 Thạch anh pha lê (Clear quartz)


 Có những giả thiết cho rằng thạch anh đen có liên hệ vói thế giới bên kia nên có khả năng cai nghiện ma túy. Đưa người nghiện trở về cuộc sống hiện tại. Nhưng thạch anh đen được coi là "thầy thuốc chữa bệnh máu " nó giúp điều trị chứng nhồi máu và chống đột quỵ chống lại những mảng sơ vữa. Thạch anh đen có tác dụng tốt đến bộ máy nâng đỡ - vận động và củng cố cột sống.  

 Thạch anh đen

Người Hindu cổ đại cho rằng, thạch anh ám khói trục ra khỏi cơ thể con người tiêu cực và cặn bã. Truyền thuyết Ấn Độ kể về mọt cái cốc được làm từ nguyên khối tinh thể thạch anh ám khói có thể chữa khỏi bách bệnh. Thạch anh ám khói giúp tránh khỏi stress và mất cảm giác đau. Để nhằm mục đích này, các nhà thạch trị liệu học khuyên nên nắm trong tay tinh thể thạch anh ám khói và chừ cho chúng nóng lên. Có tài liệu cho rằng thạch anh ám khói còn giúp điều trị viêm tuyến tiền liệt và thậm chí cả u xơ tử cung, tuy nhiên những tài liệu này chỉ nên để tham khảo
Thạch anh ám khói

Thạch anh hồng có tác dụng tốt với các bệnh ở hệ tim mạch và hệ thần kinh. Bằng tác động lên hệ thần kinh loại đá này loại trừ sự mệt nhọc ra khỏi cơ thể. Nó còn có tác dụng làm hoạt hóa hệ thống lympha mà hoạt động của hệ này có liên quan đến hệ miễn dịch. Thạch anh hồng còn ảnh hưởng đến hệ tiết niệu, mạch máu và tủy xương. Có ý kiến cho rằng, thạch anh hồng có thể tránh thụ thai ngoài ý muốn và giúp kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên thạch anh hồng chưa từng được biết đến ở dạng tinh thể mà chỉ tồn tại ở dạng vỉa. 

Thạch anh hồng

Nhẫn và ngọc bội gắn thạch anh rutin có khả năng làm chậm quá trình lão hóa. Chúng kích thích hoạt động của hệ miễn dịch, cũng như giúp cơ thể hồi phục sau xạ trị. Thạch anh rutin giúp khắc phục tình trạng mệt mỏi và trầm uất. Nó còn có tác dụng trong điều trị về đường hô hấp.

Thạch anh Rutin




Người Hy Lạp cổ gọi chrysoberyl mắt mèo là cymophane, nghĩa là “ánh sáng di chuyển”. Trong nhiều nền văn hóa xưa, người ta cho rằng chrysoberyl mắt mèo có khả năng trị được các bệnh của mắt. “Mắt” của viên đá chrysoberyl mắt mèo sẽ nháy được khi bạn chiếu 2 nguồn sáng lên nó và xoay viên đá. Khi xoay viên đá, mắt sẽ tách ra thành 2 dải sáng xa dần rồi sau đó chập lại. Hiệu ứng này gọi là “mở và khép”.

Đá mắt Hổ

Background







 Images































 Free Image Hosting Background Pictures


Nguồn:giagiacorp

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bài đăng Phổ biến

Nhãn