.

.
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYỆN LẠ ĐÓ ĐÂY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHUYỆN LẠ ĐÓ ĐÂY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 1, 2011

NHỮNG CHUYỆN LẠ VỀ MÈO TRONG NĂM MÈO




Trong tất cả những gia súc gia cầm gần gũi với con người, duy nhất chỉ có mèo là con vật đầy mâu thuẫn, vì nó vừa thân thiết với chủ nhân nhưng cũng không quên đòi hỏi sự tự do độc lập của riêng mình. Ðó là con vật có cuộc sống hai mặt, là một trưởng giả đạo mạo trên ghế cao nệm gấm, đồng thời cũng là một tên sát thủ ghê gớm trong bóng tối hay góc vườn. Nó luôn che giấu bộ mặt thật của mình nên họa hoằn lắm mới đem con mồi bắt được vào nhà hành hạ một cách độc ác trước khi phanh thây xơi tái.
Có một thắc mắc mà ai cũng muốn biết là tại sao loài mèo dù nhỏ hay lớn cũng đều muốn được chủ mình ve vuốt thương yêu ? Theo Desmond Morris giải thích, đó là tình mẫu tử bởi vì ngay từ thuở mới lọt lòng, mèo con được mẹ liếm láp hằng ngày. Do đó nó luôn coi mọi người chung quanh đều là mèo mẹ vì đó là sự cần thiết giúp nó sống lại thuở ấu thơ. Về chuyện mèo thích dùng chân cào vào đầu gối chủ. Ðây cũng là tập quán lúc mèo còn bé thường làm như vậy để mèo mẹ tiết sữa cho nó bú.
Còn bí ẩn, tại sao mèo thích thịt chuột, cũng đã được y học dựa theo một vị thuốc có tên “ ngưu hoàng, ngưu hoàng toan “ là những viên sỏi kết tinh bởi dịch mật của trâu, bò và thủy ngưu tiết ra. Ðó là acid mật (đảm toan) mang gốc NH2 chữa được nhiều thứ bệnh và làm tăng thị lực trong đêm. Loài chuột cũng có khả năng sản xuất được chất đảm toan như họ nhà trâu. Mèo là con vật chuyên săn mồi ban đêm rất cần thị lực, nên phải ăn chuột để thay thế chất đảm toan không có trong cơ thể mình.
Là con vật được người thuần dưỡng lâu đời và nuôi nấng sớm nhất khi được sinh ra chẳng bao lâu nên mèo luôn coi mình như con vật có nguồn gốc giữa mèo và người. Nói chung thì chúng luôn coi con người như một thứ cha mẹ nuôi, vì vậy rất trung thành với chủ. Ðiểm này cho thấy mẻo và chó có sự tương đồng vì cả hai đều coi chủ mình như là cha mẹ nuôi. Tuy nhiên tình cảm của chó đối với chủ còn mang ý nghĩa của một vị chúa tể nên hết lòng cung cúc tận tụy dù có phải hy sinh tính mạng để bảo vệ chủ mình. Trái lại mèo chỉ sống cho riêng mình, dù được nuôi nấng trong nhà hay còn sống nơi hoang dã. Ðó cũng là sự khác biệt về tâm lý của người thích nuôi mèo thường là phái nữ, giới nghệ sĩ, kẻ sống cô độc. Trái lại người ưa nuôi chó thường là nam giới, lính tráng, những người ưa hoạt động xã hội, cộng đồng..
Nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy các nhà sinh học xếp mèo là loài thú tự tôn và sống theo cá nhân chủ nghĩa. Mèo xuất hiện trên trái đất khoảng 10 triệu năm về trước, tuổi thọ từ 30-38 năm. VN có tới 9 loài mèo nhưng đang trên đà tuyệt chủng vì hiện là món ăn khoái khẩu của Tàu đỏ, Tàu trắng và cả nước.

1 ố NHỮNG CON MÈO ÐẶC BIỆT :
Ngày 24/11/1999, mèo Jazz được chào đời tại đại học New Orleans (Hoa Kỳ) bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như con người. Ðó là con mèo được lai giống từ trứng mèo mẹ Cayenne (loại mèo nhà) và tinh dịch mèo đực hoang dã Phi Châu đang có nguy cơ tuyệt chũng Ðây cũng là kỹ thuật mà mấy năm trước tại vườn thú Cincinnat (Mỹ) đã cho ra đời con mèo NOAH giống mèo sa mạc Ấn Ðộ, sau bốn lần thử nghiệm thất bại.
+ Mèo Rừng Serval Châu Phi : Có thân mình dẽo và thon với trọng lượng không quá 18 kg, đầu nhỏ, bốn chân dài như đại thử Úc nhưng đôi tai rất to, chuyên săn mồi ban đêm và là con thú duy nhất trên thế giới tóm được chim bằng một thủ thuật chính xác và nhanh nhẹn phi thường. Ðây cũng là một bậc thầy về môn nhảy cao hơn 3m và xa với vận tốc như muốn xé rách không khí chết trong sa mạc. Nó ăn chim, ếch nhái, thằn lằn, sâu bọ và những con linh dương còn nhỏ.
Mèo Serval còn bắt cả khỉ dù con vật này nhanh nhẹn không thua nó. Nhưng nhờ vào tài rùnh rập và vồ mồi tuyệt hảo, sự bén nhạy của tai mắt và lòng nhẫn nại đợi cho con mồi lọt hẳn vào bẩy rập mới ra tay sát kẻ đích. Vì nhỏ nên mèo thường mất sức khi đuổi theo con mồi trên khoảng đường xa, trái lại trên cây hay dưới nước, nó luơn đạt chiến thắng nhờ leo trèo và bơi lội giỏi. Nó có 4 răng hàm và cửa bén như dao dùng để xé thịt con mồi ra từng mãnh vụn trước khi ăn.
Mèo này sống khắp Châu Phi trừ sa mạc Sahara và vùng Tây Nam. Nó phân định địa bàn hoạt động của mình bằng nước tiểu và các dấu cào xé trên các võ thân cây trong khu rừng. Mèo sống cô độc và chỉ cặp đôi trong mùa giao phối diễn ra một lần trong năm. Con cái mang thai từ 67 tới 77 ngày thì sinh mỗi lứa 4 con và nuôi chúng trong vòng 1 năm mới tự đi kiếm mồi. Tuổi thọ của mèo rừng chừng 20 năm nhưng giờ đây chúng đang có nguy cơ tuyệt chũng vì bộ lông đang có giá tại Âu Mỹ và thịt rất được người bản xứ ưa chuộng.
+ Mèo Giống Nhân Sư : Mèo này có tên Sphynx (tượng đá Ai Cập, có thân sư tử, đầu người), sỡ dĩ mang tên trên vì hình dáng dị kỳ với lớp da nhăn gần như không có lông. Nó có đôi tai lớn như lừa, mắt to như nai và hình dạng cổ quái như con thú Yoda trong bộ phim Star Ware (chiến tranh những vì sao). Riêng vuốt mèo này giống móng gấu trúc sống tại Mỹ.
+ Mèo Munchkin : Còn có tên khác là Chó Chồn (Dachshund) có thân dài chân ngắn, biến dạng từ sự thay đổi giống của các loại mèo dị dạng.
+ Mèo Lion King : Ðược gọi là vua sư tử (Lion King) có nguồn gốc từ Ba Tư. Mèo này rất được các người nuôi mèo yêu quí vì bộ dạng lịch sự và lạ mắt. Bộ lông ngắn bó sát thân hình một cách tự nhiên, nên còn được gọi là sư tử trụi. Người ta còn đeo cho nó một vòng chuổi bạc làm bằng xương cá, tăng thêm vẽ thanh lịch của mèo.
+ Mèo Cornish Rex : Mèo có xuất xứ từ vùng Cornwall (Anh) , có bộ lông dợn sóng và mềm như tơ. Mèo có bụng thon, đuôi dài đặc biệt bốn chân cao nghệu, thêm đôi tai to và mềm như thỏ . Bộ dạng giống như con chó ốm, chạy nhanh chuyên săn mồi .
+ Mèo Bob Tall Long Hair : Có nguồn gốc từ Nhật Bản, đuôi ngắn có chùm lông xoắn ngộ nghĩnh . Mèo có bộ lông rậm và dài, mịn màng màu trắng sáng.
+ Mèo Tai Cụp : Xuất xứ từ vùng Scotland (Anh) , có đôi tai cụp về phía sau tạo thành một vùng hào quang phản chiếu quanh đầu. Mèo tai cụp nhìn rất dễ thương. Mèo có bộ lông sặc sỡ luôn ánh lên trước mắt mọi người nên rất được ưa thích.
+ Mèo Ocicat : Có xuất xứ từ giống mèo rừng Nam Mỹ, có bộ lông vàng rực điểm thêm những chấm tròn, nhìn giống như loài mèo Bobcat (mèo lông ngắn_ hat Linh Miêu (Lynx). Ðây là loài mèo tạp chủng được lai giống từ mèo Abysainian, mèo Xiêm và mèo lông ngắn Mỹ, được coi là giống mèo cực quý trong họ nhà mèo.
+ Mèo Xiếc : gồm chin con mèo được huấn luyện từ lúc mới lên hai tháng tuổi. Tất cả được đặt theo tên các tài tử nổi tiếng trên thế giới, trong số này có con mèo cái Madonna tuy còn nhỏ nhưng tài giỏi nhất. Mèo được các sư tập luyện từ nhỏ, nghe được tiếng người và các mệnh lệnh của chủ, có thể nhảy xuyên qua những chiếc vòng nhỏ cao quá đầu người. Những tiết mục độc đáo do các con mèo xiếc biểu diễn tại ngôi chùa Nga Phe Chaung trong vùng rừng núi Miến Ðiện, do ba vị sư trụ trì tài giỏi huấn luyện mà ngay cả những nhà dạy thú tài ba tới nay vẫn chưa đạt được.

2 ố NHỮNG CHUYỆN LẠ VỀ MÈO :
Ngày nay ai cũng biết chó là con vật luôn trung thành với chủ, còn mèo nổi bật với tính độc lập của mình. Với cặp mắt tinh anh có thể nhìn thủng màn đêm nhưng ít ai biết được loài mèo lại mù màu đỏ, khiến cho chúng đắm chìm trong thế giới của hai màu đen trắng mà thôi
Mèo là loài vật ích kỷ đúng hơn là vô chính phủ. Tập quán trên đã được chứng minh từ khi mèo chưa mở mắt mà đã cố quờ quạng dành cho được núm sửa của mèo mẹ và bám lì nó cho tới khi bỏ bú. Sau đó chúng cũng rời đàn để tự kiếm ăn và bạc bẽo nhất vẫn là những con mèo đực. Ðó là loài vật bảo thủ không muốn bất kỳ ai đụng chạm tới mình, dù đó ghế bành, giường ngủ hay bộ ván gổ. góc vườn, khu rừng.. chỗ nào mèo cũng muốn là giang san riêng của chính mình.
Lịch sử của sự thuần dưỡng mèo của con người chỉ với mục đích gạt bỏ những sự sợ hãi của họ đối với con vật. Mèo nhà được thuần dưỡng chỉ còn mang trong mình 20% tính hoang dã, phần còn lại là ảnh hưởng của môi trường, sự giáo dục của chủ và hoàn cảnh xã hội. Những con mèo nhà hiện diện khắp thế giới ngày nay, không phải là sản phẩm được hình thành từ sự hắt hơi của con cọp như huyền thoại Hồi giáo đã kể. Nó là con cháu của giống mèo rừng Nam Mỹ (Ocelot), của loài mèo Felix Lybica Ai Cập..
Theo Rupert Sbeldrake, một nhà sinh học người Anh thì mèo đặc biệt có thêm giác quan thứ sáu “ thần giao cách cảm “ và thứ bảy là “ khả năng định hướng “ , đã giúp nó băng qua những đoạn đường dài mà không sợ lạc lối như chim và cá (trừ loài bồ câu và cá thiên di).. Hiện các nhà khoa học đã chứng minh được nó có chất kim loại Magnetite chứa sắt rất nhạy cảm với từ trường, ở xoang mặt và sau những sợi lông dài mọc ở chân trước mèo. Ngoài ra nó còn có một trí giác rất mạnh và góc nhìn rộng 187 độ, giúp nó nhớ rõ những nơi chốn đã đi qua một cách chính xác, dù chỉ một lần. Mèo còn có những máy phát sóng nằm dưới chân chuyên sản xuất chất Phéromore là một loại hormone dùng làm vạch mốc khứu giác, đánh dấu các địa điểm đã đi qua.
Còn những tiếng gầm gừ của mèo cũng là tín hiệu cho biết gia đình chúng (mèo mẹ và đám con nhỏ) đang sống hạnh phúc. Việc mèo phi tang “ của quí vừa đại tiện của mình “ không phải chúng sạch sẽ mà đó là bản tính lúc nào cũng muốn che giấu sự thật, để luôn tại hình ảnh tốt trước mặt chủ..
+ Những Bệnh Lạ Do Mèo Gây Ra : Gần đây người ta phát hiện chứng bệnh viêm loét bao tử là loại bệnh truyền nhiễm, mà nguyên nhân do vi khuẩn H.Pylori gây ra bằng đường tiêu hóa nhưng bệnh này cũng dễ trị nếu biết giữ gìn vệ sinh và uống kháng sinh. Hiện các nhà khoa học ở Lausanne (Thuỵ Sĩ) qua nhiều lần thử nghiệm, đã chứng minh rằng những người thường gần gũi với mèo, đã mất vài dạng bệnh loét bao tử do vi khuẩn H. heilmannil truyền sang từ mèo.
Ít người ngờ tới họ nhà mèo gồm mèo nhà, mèo rừng, báo.. đều có thể mắc bệnh AIDS như người, mà y học gọi là bệnh liệt kháng gây ra bởi vi khuẩn FIV (Feline Immunodeficiency Virus) không ảnh hưởng tới người và các loại động vật khác. Hiện có khoảng 2-7% mèo nhà vùng Bắc Mỹ nhiễm FIV, được phát hiện lần đầu vào năm 1986 tại California. Ðây là loại virus thuộc họ retrovirus tương tự như nhóm HIV gây bệnh AIDS ở người.
FIV có nhiều trong nước bọt mèo gây bệnh qua vết cắn, chứ không phải từ đường máu và sinh hoạt tình dục như ở người. Ngoài ra mèo mẹ lây bệnh sang mèo con qua đường nhau thai. Con đực dễ bị lây bệnh hơn con cái vì hay ra ngoài cắn lộn. Bệnh phát triển chậm ở mèo và trải qua 6 thời kỳ tới giai đoạn chót với các bệnh ung thư hạch và tuỷ xương, co giật, thiếu máu. Năm 2002 các nhà khoa học tại đại học Florida đã thử nghiệm một loại thuốc chũng ngừa bệnh AIDS mèo , tuy nhiên thuốc chỉ có công dụng rất hạn chế . Tóm lại loại virus FIV rất đặc thù, nó chỉ có thể gây bệnh ở họ nhà mèo mà thôi, tuyệt đối không truyền sang cho người được.
+ Mèo Trong Chiến Tranh : Dù là con vật yếu nhỏ nhưng mèo đã được sử dụng trong chiến tranh từ 2500 trước tây lịch, qua cuộc chiến giữa Ai Cập và Ba Tư. Với người Ai Cập, mèo được coi như một con vật linh thiêng tượng trưng cho thần Pasht , nên ai làm tổn thương mèo sẽ bị xử tử. Dựa vào yếu tố tinh thần đó, người Ba Tư đã đưa mèo ra chiến trường, khiến cho người Ai Cập chỉ còn nước đầu hàng.
Trong thế chiến I, mèo được đưa ra chiến trường để diệt chuột và làm máy dò khí gaz độc và truyền tin tức. Nhưng lạ lùng nhất là việc sử dụng mèo trong thế chiến II của Cục phản gián OSS (tiền thân của CIA ngày nay) đánh bom tàu chiến Ðức quồc xã. Người Mỹ đã lợi dụng tính sợ nước của mèo, gắn vào chúng một quả bom và thả gần tàu đich. Số mèo này vì muốn sống nên đã cố gắng leo lên booing tàu Ðức và bom nổ. Tuy nhiên kế hoạch này đã thất bại vì phần lớn mèo từ máy bay thả xuống nước đã bị ngất xỉu
Năm 1961 thời kỳ chiến tranh lạnh, CIA lại có kế hoạch gọi là “ chiến dịch mèo nghe trộm (operation Acoustic Kitty) sử dụng mèo thành một thiết bị nghe lén, bằng phương pháp giải phẩu mèo, đặt trong cơ thể chúng một thiết bị điện tử nghe lén, còn đuôi là cần ăngten. Dự án tốn hơn 15 triệu USD và mất 5 năm thực hiện, trước khi được sử dụng lần đầu để nghe lén cuộc nói chuyện tại tòa đại sứ Liên Xô ở Hoa Thịnh Ðốn. Tiếc thay con mèo gián điệp đã bị xe cán chết khi băng qua đường, nên CIA dẹp luôn kế hoạch trên.
+ Những Con Mèo Giàu Nhất Thế Giới : Ða số những người giàu trong đó có giới nghệ sĩ đều thích nuôi thú cưng trong nhà như chó, mèo và trước khi chết thường viết di chúc để lại cho chúng tài sản có khi lên tới hàng triệu USD.. Tài sản này được coi sóc bởi những quản gia trung thành với chủ.
Mèo Pepe le Pew và Ani với một con chó giống Chihuahua tên Frankie, cùng làm chủ một biệt thự ở San Diego (California). Ngoài ra chủ còn viết di chúc cho hai con mèo trên 18,5 triệu USD, riêng con chó Frankie 15 triệu USD. Tinker là con mèo mun Anh thuộc giống mèo hoang, được thừa hưởng phần gia tài của bà quả phụ Margaret Layne 800.000 USD và một căn nhà 3 phòng ở Harrow. Cuối cùng là 350 gia súc gồm chó, mèo và cừu trong trại chăn nuôi Aberdeen Angus (khu vực Mey Farm phía bắc nước Anh của mẹ Nữ hoàng Anh Elizabeth II, được thừa hưởng gần 6 triệu USD.
+ Ðảo Mèo Kinh Dị : Walter William là một nha sĩ trẻ, sống và hành nghề tại thị trấn Saint Thomas, tỉnh Ontario (Canada). Vì có máu giang hồ nên đã từ bỏ cuộc sống sung túc nơi quê nhà, quyết tâm tìm tới một hòn đảo tên Society giữa Thái Bình Dương, theo lời quảng cáo của một công ty du lịch. Và mộng ước của Walter không phải chỉ tới đó để ngắm cảnh rong chơi, mà còn nuôi tham vọng được làm chủ một hòn đảo nho nhỏ, dựng nhà, câu cá, tắm biển.. sống an một đời không màng tới lợi danh phù phiếm.
Ðó là năm 1902 và vùng đất đầu tiên sau chuyến hải trình dịu vợi mà Walter đặt chân tới là kinh đô Papeete của vương quốc Tahiti, một hải đảo thuộc địa của Pháp. Ðể kiếm sống nơi xứ lạ quê người, Walter lại quay về nghề chữa răng cho mọi người trên đảo, bằng bộ đồ nghề đã mang theo với tên mới “ ông đốc Willy “.Và đây cũng là cơ duyên giúp ông ta quen biế với hoàng gia kể cả hoàng đế, qua những lần trồng răng chữa răng miễn phí.
Ðể đền ơn, vua Pomare V đã tặng cho người nha sĩ trẻ tuổi một hoang đảo thuộc lãnh thổ vương triều. Có điều đây là một đảo “ chuột “ vì cư dân trên đảo không phải là người mà toàn là chuột, hàng ngàn, hàng vạn con lúc nhúc hiện diện khắp nơi, từ mặt đất tới cả ngọn cây dừa.. chổ nào cũng có mặt chuột. Không chịu thua trước hoàn cảnh tuyệt vọng, đầu tiên Walter dùng thức ăn trộn thuốc độc để giết chuột nhưng không có hiệu quả.
Sau cùng Walter phải sử dụng tới đạo quân mèo và nhờ đó gần như diệt được loạn chuột đã hùng cứ hằng trăm năm trên đảo, trước sự bất lực của con người. Nhưng chuột đi mà mèo vẫn ở lại trên đảo, hết chuột để ăn, đàn mèo lại sinh tồn bằng cá biển tung tăng khắp bờ và cứ thế không biết từ lúc nào, đảo Tetiaroa đã đổi thành “ đảo mèo “ . Còn chủ nhân ông Walter William không làm gì hơn, ngoài việc thay đổi thần dân của mình “ từ chuột sang mèo “ và trồng thêm thật nhiều dừa và chuối khắp đảo.
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, người thừa kế “ đảo mèo “ là tài tử Mỹ nổi tiếng Marlon Brando, có tham vọng biến đảo này thành một thiên đường dành cho giới văn nghệ sĩ. Nhưng nơi này không bao giờ có sự yên tĩnh bất cứ một phút giây nào, vì sự cuồng loạn của giặc mèo.
+ Giặc Mèo Ở Nhật : Trong quá khứ, đảo Ishima của Nhật từng là nạn nhân kinh khiếp của đám giặc chuột trong một thời gian dài. Cảnh tượng trên đảo lúc đó gần như là vườn không nhà trống, vì giặc chuột tới đâu là chúng ngốn hết rau quả, thức ăn, củi gổ luôn đến những gia súc gia cầm. Tới nay chưa có ai xác định được đàn chuột làm sao đến được đảo.
Ðể diệt chuột, người trên đảo đã tìm đủ mọi cách nhưng càng xua đuổi thì chúng lại càng phá phách và sinh sôi thêm đông đảo hơn trước. Cuối cùng chính quyền địa phương kể cả trung ương đã nhập cuộc để chống lại trận giặc chuột dữ tợn này. Và chiến lược cuối cùng vẫn là sử dụng mèo diệt chuột, theo truyền thống ngàn đời của con người.
Thế là hàng vạn con mèo bị bỏ đói nhiều ngày, được tàu chở tới thả lên đảo. Ðang lúc đói lại gặp mồi ngon, nên chỉ trong ngày đầu tiên đàn mèo tranh giành nhau để bắt chuột. Vì thế chỉ trong một tháng, không còn ai thấy bóng một con chuột nào xuất hiện trên đảo.
Nhưng niềm vui chưa được bao lâu thì nổi buồn phiền sợ hãi khác lại xuất hiện. Nguyên do là đàn mèo đông đảo sau khi đã ngốn hết lũ chuột nên không còn cái ăn. Vì vậy chúng phải tự kiếm sống bằng mọi thứ, từ cá thịt hoa quả bày bán ngoài chợ, trong tiệm quán.. cho tới thức ăn đồ uống cất kỷ trong tủ. Trận giắc mèo kỳ này còn ghê gớm gấp trăm lần trần giặc chuột đợt trước, Dân chúng trên đảo trước khổ vì chuột nay lại đau bởi mèo, nhiều gia đình không chịu nổi phải bỏ đảo Ishima tha phương cầu thực. Cuối cùng chính quyền phải sử dụng súng để diệt mèo nhưng không làm sao hạ hết đàn mèo tinh quái.
+ Bảo Tàng Mèo Tại Thành Phố Kuching (Mã Lai) : Kuching là thủ phủ của bang Sarawak (Mã Lai Á) nổi tiếng nhờ mèo. Ðặc biệt giống mèo ở đây đều có chiếc đuôi xoắn tít hay đuôi cụt như pho tượng mèo được tạc đứng trước chiếc cổng dẫn vào thành phố.
Cho đến nay không ai biết được xuất xứ của những con mèo kỳ lạ này tại Kuching, ngoài việc sự hiện diện đông đảo của chúng khắp thành phố. Có nhiều ý kiến về nguồn gốc của giống mèo này được các thương gia Tàu hoặc Ấn mang tới. Ngoài ra chúng cũng là hậu duệ của mèo rừng và mèo Xiêm tạo ra.
Theo tiếng Mã Lai, Kuching ngoài nghĩa chính là mèo còn dùng để chỉ một loại trái nhỏ giống như trái vải qua tên “ Saungai Mata Kuching “ mà cả người Mã lẫn người Việt đều gọi là mắt mèo, lúc đó mọc đầy hai bên bờ suối Mata Kuching. Năm 1988 Kuching trở thành thủ phủ của bang Sarawak, người dân ở đây đã dựng tượng “ đại miêu “ được coi là lớn nhất thê giới để ăn mừng. Ở đây còn có một bảo tàng mèo đặc biệt, trưng bày nhiều hình ảnh, hiện vật và tài liệu quý giá.. nên thu hút rất nhiều du khách bốn phương. Từ đó ta mới biết được sự tôn thờ mèo như thần thánh củ người cổ Ai Cập Riêng các doanh nghiệp rất thích hai tượng mèo Nhật Bản mang tên Manekineko với ý nghĩa “ chúc mừng thịnh vượng và phát tài “ Ngoài còn có một phòng đặc biệt, trưng bày hình ảnh của những nhân vật nổi danh trên thế giới rất yêu mèo như Victor Hugo, Florence Nightingale, Lincoln, Einstein, Hemingway..
“ Chuột ăn hại, mèo ăn tham “ muôn đời là một chân lý nên người VN xưa đã thâm thúy khi tạo nên bức tranh tết trong làng tranh Ðông Hồ “ đám cưới chuột “ với dụng ý nhân cách hóa con mèo và 12 con chuột trong tranh, trở thành những biểu tượng đại diện cho bọn tham quan ô lại (mèo), bọn con quan quyền quí (ông rễ chuột và đám nịnh thần) cùng với những người dân nghèo cực thấp cổ bé miệng (các chuột khiêng kiệu, vác cờ, thổi kèn, đánh trống). Cái khôi hài đầy châm biếm của bức tranh, là sự hòa họp, hòa giải sống chung hòa bình của “ mèo và chuột “ là hai kẻ thù không đội trời chung nhưng vì mèo tham ô ăn hối lộ (chim bồ câu, cá chép) nên nhắm mắt quên nhiệm vụ tiêu diệt phường ăn hại thối nát là chuột
Cuối cùng là câu chuyện “ dùng chó thay mèo bắt chuột “ đọc được trong tác phẩm “ cái cười của thánh nhân “ của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, có kể chuyện một con chó săn rất giỏi nhưng lại bị chủ nhốt trong nhà để bắt chuột cho nên chó đã không thi thố được tài năng của mình. Câu chuyện “ cùm chân con chó có tài săn thú, để thay mèo bắt chuột “ tại những đất nước tự do chỉ có thể làm cho người ta cười nhưng tại thiên đường xã nghĩa như CSVN, Bắc Hàn, Tàu đỏ.. thì lại trở thành câu chuyện cười ra nước mắt.
Là một con chó (hay con người) có tài năng, mà bị chủ cùm chân, bịt miệng bắt làm chuyện “ thay mèo bắt chuột “ hay tôi tớ phục vụ cho đảng thì thật là quá thê thảm. Nhưng có lẽ bi hài nhất cho những ai không hề bị “ cùm chân “ mà tự mình “ cùm chân “ chính mình, để làm đầy tớ nô bộc, giúp cho kẻ thù của dân tộc “ bán nước hại dân “ chỉ vì hám danh và mê bã vinh hoa phú quí. Ðó mới là chuyện nên cười hay khóc của người Việt hôm nay ?!

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

CHÚNG TÔI NẰM VÌ MỘT THẾ GIỚI KHÔNG ĐỒ LÔNG THÚ

Họ dùng sơn đỏ bôi lên khắp người!
Rất thật!
và thương tâm…
Chúng tôi nằm đây vì một thế giới không có đồ lông thú!
(Theo Chinaview, Chinadaily)

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010

TOP 10 EVIL HẦU HẾT PHỤ NỮ

Top 10 Evil Hầu hết phụ nữ

Chúng ta đều có xu hướng tập trung vào những người đàn ông ác trên thế giới và quên đi một số các phụ nữ thực sự ác đã từng sống. I hope to correct that with this list. Tôi hy vọng sẽ chính xác rằng với danh sách này. Here we have not just serial killers, but other utterly despicable women who have caused tragedy in many people's lives. Ở đây chúng tôi đã không chỉ giết người hàng loạt, nhưng phụ nữ hoàn toàn đê hèn khác, những người đã gây ra bi kịch trong cuộc sống của nhiều người. So, without further ado, here are the top 10 most evil women in history. Vì vậy, không có thêm ado, đây là top 10 phụ nữ ác nhất trong lịch sử.
10. Queen Mary I Born: 1516; Died: 1558 Queen Mary I Sinh 1516; chết: 1558 468Px-Mary1 theo Eworth 3
Mary was the only child of Henry VIII and Catherine of Aragon to live past infancy. Mary là con duy nhất của Henry VIII và Catherine of Aragon sống thời thơ ấu qua. Crowned after the death of Edward VI and the removal of The Nine Days Queen-Lady Jane Grey, Mary is chiefly remembered for temporarily and violently returning England to Catholicism. Lên ngôi sau cái chết của Edward VI và loại bỏ các của Cửu Ngày Queen-Lady Jane Grey, Mary là chủ yếu nhớ tạm thời và dữ dội trở lại Anh để Công giáo. Many prominent Protestants were executed for their beliefs leading to the moniker “Bloody Mary”. Nhiều người nổi bật Tin Lành đã bị hành quyết vì niềm tin của họ dẫn đến biệt danh "Bloody Mary". Fearing the gallows a further 800 Protestants left the country, unable to return until her death. Lo ngại giá treo cổ một người Tin Lành thêm 800 trái đất nước, không thể trả lại cho đến khi cái chết của cô. It should be noted that Elizabeth I shares position 10 on this list for her equally bad behavior. Cần lưu ý rằng Elizabeth I cổ phiếu vị trí 10 trên danh sách này đều có hành vi xấu của cô.
9. 9. Myra Hindley Born: 1942; Died: 2002 Myra Hindley Sinh năm: 1942; chết: 2002
Myra-Hindley-bà
Myra Hindley and Ian Brady were responsible for the “Moors murders” occurring in the Manchester area of Britain in the mid 1960's. Myra Hindley và Ian Brady đã chịu trách nhiệm cho "người Moor vụ giết người" xảy ra tại khu vực Manchester của Anh vào những năm 1960 của trung. Together these two monsters were responsible for the kidnapping, sexual abuse, torture and murder of three children under the age of twelve and two teenagers, aged 16 and 17. Cùng hai con quái vật đã được chịu trách nhiệm về vụ bắt cóc, lạm dụng tình dục, tra tấn và giết người của ba trẻ em dưới mười hai tuổi và hai thiếu niên, tuổi từ 16 và 17. A key found in Myra's possession led to incriminating evidence stored at a left-luggage depot at Manchester Central Station. Một khóa được tìm thấy trong sở hữu của Myra dẫn đến bằng chứng buộc tội được lưu trữ tại kho hành lý trái tại Manchester Central Station. The evidence included a tape recording of one of the murder victims screaming as Hindley and Brady raped and tortured her. Bằng chứng bao gồm một băng ghi âm của một trong những nạn nhân vụ giết người la hét như Hindley và Brady hãm hiếp và tra tấn cô. In the final days before incarceration, she developed a swagger and arrogant attitude that became her trademark. Trong những ngày cuối cùng trước khi bị bắt giam, cô đã phát triển một vênh vang và thái độ ngạo mạn đã trở thành thương hiệu của mình. Police secretary Sandra Wilkinson has never forgotten seeing Hindley and her mother Nellie, leaning against the courthouse eating sweets. Cảnh sát trưởng Sandra Wilkinson đã không bao giờ quên nhìn thấy Hindley và mẹ cô Nellie, dựa vào các tòa án ăn đồ ngọt. While the mother was obviously and understandably upset, Hindley seemed indifferent and uncaring of her situation. Trong khi người mẹ đã được rõ ràng và dễ hiểu khó chịu, Hindley có vẻ thờ ơ và không quan tâm về tình hình của cô.
8. 8. Isabella of Castile Born: 1451; Died: 1504 Isabella của Castile Sinh năm: 1451; chết: 1504
Isabel La Católica-2
Isabella I of Spain, well known as the patron of Christopher Columbus, with her husband Ferdinand II of Aragon, are responsible for making possible the unification of Spain under their grandson Carlos I. As part of the drive for unification, Isabella appointed Tomás de Torquemada as the first Inquisitor General of the inquisition. Isabella I của Tây Ban Nha, cũng được biết đến như là người bảo trợ của Christopher Columbus, với chồng Ferdinand II của Aragon, có trách nhiệm làm tốt việc thống nhất của Tây Ban Nha dưới Carlos I. cháu trai của họ là một phần của ổ đĩa cho thống nhất, Isabella bổ nhiệm Tomás de Torquemada Inquisitor đầu tiên là Tổng Toà án dị giáo này. March 31, 1492 marks the implementation of the Alhambra Decree; expulsion edicts forcing the removal or conversion of Jews and Muslims. Ngày 31 Tháng Ba 1492 đánh dấu việc thực hiện Nghị định Alhambra; sắc lệnh trục xuất buộc loại bỏ hoặc chuyển đổi của người Do Thái và người Hồi giáo. Roughly 200,000 people left Spain; those remaining who chose conversion were subsequently persecuted by the inquisition investigating Judaizing conversos. Khoảng 200.000 người rời Tây Ban Nha, những người còn lại những người đã chọn chuyển đổi được sau đó bị bức hại do Toà án dị giáo điều tra conversos Judaizing. In 1974, Pope Paul VI opened her cause for beatification. Năm 1974, Giáo hoàng Paul VI đã mở ra cô cho phong chân phước. This places her on the path toward possible sainthood. Điều này đã đặt ngài trên con đường hướng tới phong Thánh có thể. In the Catholic Church, she is thus titled Servant of God. Trong Giáo Hội Công Giáo, cô là như vậy, có tiêu đề tôi tớ của Thiên Chúa.
7. 7. Beverly Allitt Born: 1968 Beverly Allitt sinh: 1968
38792011 Allitt150
The “Angel of Death, Beverley Gail Allit, is one of Britain's most well known serial killers. Thiên thần "của cái chết, Beverley Gail Allit, là một trong những nước Anh nổi tiếng nhất những kẻ giết người hàng loạt. Working as a pediatric nurse, she is responsible for the murder of 4 children and the serious injury of 5 others in her care. Làm việc như là một y tá khoa nhi, cô ấy là chịu trách nhiệm về cái chết của 4 trẻ em và thương tích nghiêm trọng của 5 người khác trong việc chăm sóc cô. When available, insulin or potassium injections were used to precipitate cardiac arrest; smothering sufficed when they were not. Khi có thể, insulin hoặc tiêm kali được sử dụng để kết tủa ngừng tim, nghẹt sufficed khi họ không.Although convicted with death or injury in nine cases, Allit attacked thirteen children over a fifty-eight day period before being caught red-handed. Mặc dù bị kết án với cái chết hoặc bị thương trong chín trường hợp, Allit tấn công mười ba trẻ em trên một khoảng thời gian năm mươi tám ngày trước khi bị bắt quả tang. Allit has never spoken of the motive for her crimes, but Munchausen's Syndrome by Proxy explains her actions. Allit chưa bao giờ nói về những động lực cho tội ác của mình, nhưng Hội chứng Munchausen của của Proxy giải thích hành động của cô. This debatable personality disorder involves a pattern of abuse or harm to someone in your care in order to garner attention (Alitt was known as a child to wear bandages and casts over wounds, but would not allow them to be examined). Điều này gây tranh cãi liên quan đến rối loạn nhân cách một mô hình lạm dụng hoặc gây tổn hại cho một ai đó trong việc chăm sóc của bạn để thu hút sự chú ý (Alitt được biết đến như một đứa trẻ đeo băng và bỏ qua vết thương, nhưng sẽ không cho phép họ được kiểm tra).
6. 6. Belle Gunness Born: 1859; Died: 1931 Belle Gunness Sinh năm: 1859; chết: 1931
Mỷ nhân
Belle Gunness was one of America's most degenerate and productive female serial killers. Belle Gunness là một trong những suy biến nhất của Mỹ và những kẻ giết người phụ nữ sản xuất nối tiếp. Standing 6 ft (1.83 m) tall and weighing in at over 200 lbs (91 kg), she was an imposing and powerful woman of Norwegian descent. Thường vụ 6 ft (1,83 m) cao và nặng hơn 200 lbs (91 kg), cô là người phụ nữ mạnh mẽ và áp đặt gốc Na Uy. It is likely that she killed both her husbands and all of her children at different times, but it is certain that she murdered most of her suitors, boyfriends, and her two daughters, Myrtle and Lucy. Nó có khả năng là cô ấy đã giết chết cả hai người chồng của cô và tất cả các trẻ em của cô tại thời điểm khác nhau, nhưng nó chắc chắn rằng cô bị sát hại nhất của người cầu hôn, bạn trai của cô, và hai cô con gái, Myrtle và Lucy. The motive was greed-pure and simple; life insurance policies and assets stolen or swindled from her suitors became her source of income. Các động cơ đã được tham lam, tinh khiết và đơn giản, cuộc sống chính sách bảo hiểm và tài sản bị mất cắp hoặc lừa đảo từ cầu hôn cô ấy trở thành nguồn thu nhập của mình. Most reports put her death toll at more than twenty victims over several decades, with some claiming in excess of one hundred. Hầu hết các báo cáo đưa số người chết của cô ở hơn hai mươi nạn nhân qua nhiều thập kỷ, với một số tuyên bố vượt quá một trăm. Inconsistencies during her post mortem examination; the corpse was reported to be two inches shorter than Belle's six feet, paved the way for Belle Gunnes to enter American criminal folklore, a female Bluebeard. Mâu thuẫn trong thời gian thi khám nghiệm tử thi của cô, xác chết đã được báo cáo là hai inch ngắn hơn của Belle sáu chân, mở đường cho Belle Gunnes để nhập văn hóa dân gian Mỹ hình sự, một Bluebeard nữ.



5. 5. Mary Ann Cotton Born: 1832; Died: 1873 Mary Ann Cotton sinh: 1832; chết: 1873
Mary-1
Englishwoman Mary Ann Cotton is another for-profit serial killer, predating Belle Gunnes by thirty years. Người đàn bà Anh Mary Ann Cotton là một nối tiếp cho lợi nhuận kẻ giết người, predating Belle Gunnes của ba mươi năm. Married at age twenty to William Mowbray, the newlyweds settled in Plymouth, Devon, to start their family. Kết hôn ở tuổi hai mươi để William Mowbray, các cặp mới cưới định cư ở Plymouth, Devon, để bắt đầu gia đình của họ.The couple had five children, four of whom died of 'gastric fever and stomach pains'. Các cặp vợ chồng đã có năm con, bốn người chết vì 'sốt dạ dày và đau dạ dày. Moving back to the north-east, tragedy seemed to follow them; three more children born, three more children died. Di chuyển trở lại phía đông bắc, bi kịch dường như theo họ, ba trẻ em sinh ra nhiều hơn, thêm ba trẻ em đã chết. William soon followed his offspring, dying of an 'intestinal disorder' in January 1865. William ngay sau con cháu của mình, chết vì "rối loạn đường ruột 'một vào tháng Giêng năm 1865. British Prudential promptly paid a 35 pound dividend, and a pattern was established. Anh Prudential kịp thời chi trả cổ tức pound 35, và một mẫu được thành lập. Her second husband, George Ward, died of intestinal problems as well as one of her two remaining children. người chồng thứ hai của cô, George Ward, chết vì vấn đề đường ruột cũng như một trong hai đứa con còn lại của mình. The power of the press, always a force to be reckoned with, caught up with Mary Ann. Sức mạnh của báo chí, luôn luôn là một lực lượng được tính đến, bắt kịp với Mary Ann. The local newspapers discovered that as Mary Ann moved around northern England, she lost three husbands, a lover, a friend, her mother and a dozen children, all dying of stomach fever. Các tờ báo địa phương phát hiện ra rằng khi Mary Ann di chuyển xung quanh miền bắc nước Anh, cô bị mất ba người chồng, một người yêu, bạn bè, mẹ và con cái một chục, tất cả đều chết vì sốt dạ dày. She was hanged at Durham County Gaol, March 24, 1873, for murder by arsenic poisoning. Cô đã treo cổ tại County Durham tù, 24 tháng ba năm 1873, về tội giết người do ngộ độc asen. She died slowly, the hangman using too short a drop for a 'clean' execution. Bà chết chậm, treo cổ bằng cách sử dụng quá ngắn một giọt cho một thực hiện "sạch".
4. 4. Ilse Koch Born: 1906; Died: 1967 Ilse Koch Sinh năm: 1906; chết: 1967
034
“Die Hexe von Buchenwald” the Witch of Buchenwald, or “Buchenwälder Schlampe” the Bitch of Buchenwald was the wife of Karl Koch, commandant of the concentration camps Buchenwald from 1937 to 1941, and Majdanek from 1941 to 1943. "Die Hexe von Buchenwald" Phù thủy của Buchenwald, hoặc "Buchenwälder Schlampe" các Bitch của Buchenwald là vợ của Karl Koch, chỉ huy trại tập trung Buchenwald 1937-1941, và Majdanek 1941-1943. Drunk on the absolute power rendered by her husband, she reveled in torture and obscenity. Drunk vào sức mạnh tuyệt đối đưa ra bởi người chồng của mình, cô reveled trong tra tấn và khiêu dâm. Infamous for her souvenirs; tattoos taken from the murdered inmates, her reputation for debauchery was well earned. Infamous quà lưu niệm của mình, hình xăm được lấy từ các tù nhân bị sát hại, danh tiếng của mình cho đồi truỵ cũng đã kiếm được. After building an indoor sports arena in 1940, with 250,000 marks stolen from inmates, Ilsa was promoted to Oberaufseherin or “chief overseer” of the few female guards at Buchenwald. Sau khi xây dựng một đấu trường thể thao trong nhà vào năm 1940, với 250.000 dấu hiệu bị đánh cắp từ các tù nhân, Ilsa được thăng Oberaufseherin hoặc "trông nom trưởng" của các vệ sĩ nữ ít ở Buchenwald. She committed suicide by hanging herself at Aichach women's prison on September 1, 1967. Cô tự tử bằng cách treo mình tại nhà tù Aichach của phụ nữ trên 1 Tháng Chín, năm 1967.
3. 3. Irma Grese Born: 1923; Died: 1945 Irma Grese sinh: 1923; chết: 1945
Irma Grese-
Another product of the Nazi's final solution, Irma Grese or the “Bitch of Belsen” was a guard at concentration camps Ravensbrück, Auschwitz and Bergen-Belsen. Một sản phẩm của giải pháp cuối cùng của Đức Quốc xã, Irma Grese hay "Bitch của Belsen" là một người bảo vệ tại các trại tập trung Ravensbrück, Auschwitz và Bergen-Belsen. Transferred to Auschwitz in 1943, (she must have shown particular enthusiasm and dedication to the job), she was promoted to Senior Supervisor, the 2nd highest ranking female in camp, by the end of the year. Chuyển đến Auschwitz vào năm 1943, (cô phải cho thấy sự nhiệt tình đặc biệt và sự cống hiến cho công việc), cô được thăng chức cao cấp giám sát, xếp hạng thứ 2 phụ nữ cao nhất trong trại, đến cuối năm nay. In charge of over 30,000 Jewish female prisoners, she reveled in her work. Trong phí của hơn 30.000 tù nhân Do Thái nữ, cô reveled trong công việc của mình. Her work included; savaging of prisoners by her trained and half starved dogs, sexual excesses, arbitrary shootings, sadistic beatings with a plaited whip, and selecting prisoners for the gas chamber. công việc của cô bao gồm; savaging các tù nhân bằng cách đào tạo và một nửa con chó đói của mình, tình dục thái quá, vụ nổ súng tùy tiện, bị đánh đập tàn bạo bằng roi tết, và các tù nhân chọn được các buồng khí. She enjoyed both physical and emotional torture and habitually wore heavy boots and carried a pistol to facilitate both. Cô rất thích cả hai thể chất và tình cảm bị tra tấn và thường xuyên mặc khởi động nặng và mang một khẩu súng lục để tạo thuận lợi cho cả hai.
2. 2. Katherine Knight Born: 1956 Katherine Knight Sinh năm: 1956
Katherineknight Narrowweb 300X334, 0
The first Australian woman to be sentenced to a natural life term without parole, Katherine Knight had a history of violence in relationships. Người phụ nữ đầu tiên của Úc được kết án có thời hạn cuộc sống tự nhiên mà không cần tạm tha, Katherine Knight đã có một lịch sử của bạo lực trong các mối quan hệ. She mashed the dentures of one of her ex-husbands and slashed the throat of another husband's eight-week-old puppy before his eyes. Cô nghiền răng giả của một trong những người chồng cũ của cô và cắt giảm cổ họng của một người chồng của tám tuần tuổi con chó con trước mắt của mình. A heated relationship with John Charles Thomas Price became public knowledge with an Apprehended Violence Order that Price had filed against Knight and ended with Knight stabbing Price to death with a butcher's knife. Một mối quan hệ nóng với John Charles Thomas Giá đã trở thành công kiến thức với một Bạo lực bắt Theo đó giá đã nộp đối với Knight và kết thúc với Knight đâm Giá đến chết bằng dao của một người bán thịt. He had been stabbed at least 37 times, both front and back, with many of the wounds penetrating vital organs. Ông đã bị đâm ít nhất 37 lần, cả hai mặt trước và sau, với nhiều vết thương thâm nhập cơ quan quan trọng. She then skinned him and hung his “suit” from the door frame in the living room, cut off his head and put it in the soup pot, baked his buttocks, and prepared gravy and vegetables to accompany the 'roast'. Cô sau đó da ông và treo mình "phù hợp" từ các khung cửa trong phòng khách, cắt bỏ đầu và đặt nó vào nồi canh, nướng mông của mình, và chuẩn bị nước thịt và rau để đi cùng với các 'quay'. The meal and a vindictive note were set out for the children, luckily discovered by police before they arrived home. Các bữa ăn và lưu ý một báo thù đã được đặt ra cho các trẻ em, may mắn phát hiện của cảnh sát trước khi họ đến nhà.
1. 1. Elizabeth Bathory Born: 1560; Died: 1614 Elizabeth Bathory sinh: 1560; Mất: 1614
Elizabeth Bathory-
Countess Elizabeth Bathory is considered the most infamous serial killer in Hungarian/Slovak history. Countess Elizabeth Bathory được coi là sát thủ khét tiếng nhất trong lịch sử nối tiếp Hungary / Tiếng Slovak. Rumors had circulated for years about missing peasant girls; offered well paid work at the castle, they were never seen again. Tin đồn đã lưu hành trong nhiều năm qua về việc thiếu những cô gái nông dân; cũng cung cấp việc làm có lương tại lâu đài, họ đã không bao giờ nhìn thấy một lần nữa. One of these rumors reached the ears of King Mathias II, who sent a party of men to the massive Castle Csejthe. Một trong những tin đồn đến tai vua Mathias II, người đã gửi một bên của người đàn ông đến lâu đài Csejthe lớn. The men found one girl dead and one dying. Những người đàn ông tìm thấy một cô gái đã chết và một người chết. Another was found wounded and others locked up. Một phát hiện khác bị thương và những người khác bị nhốt. Described atrocities, collected from testimony of witnesses, include; severe beatings over extended periods of time, the use of needles, burning or mutilation of hands, sometimes also of faces and genitalia, biting the flesh off the faces, arms and other bodily parts, and the starving of victims. mô tả hành động tàn bạo, thu thập từ lời khai của các nhân chứng, bao gồm: đánh đập nặng trong một thời gian dài, việc sử dụng đốt, kim hoặc cắt xén của bàn tay, đôi khi cũng có các khuôn mặt và cơ quan sinh dục, cắn vào da thịt ra khỏi khuôn mặt, tay và các bộ phận cơ thể khác, và các nạn nhân chết đói. The victim total is thought to number in the hundreds occurring over a twenty-five year period. Tổng số nạn nhân được cho là số trong hàng trăm xảy ra trong khoảng thời gian năm 2005. Due to her social status she was never brought to trial but remained under house arrest in a single room until her death. Do địa vị xã hội của cô, cô đã không bao giờ đưa ra xét xử nhưng vẫn bị quản thúc tại gia ở một phòng đơn cho đến khi cái chết của cô. The idea that the Countess bathed in the blood of her victims is folklore, and one of the few things she did not do. Ý tưởng cho rằng các Countess tắm trong máu của các nạn nhân của cô là văn hóa dân gian, và một trong số ít những thứ cô ấy đã không làm.
Note: In order to clear one point up, Lizzie Borden is not on this list because she was found innocent of the murder of her parents. Lưu ý: Để rõ ràng một điểm đến, Lizzie Borden không có trong danh sách này bởi vì cô đã được tìm thấy vô tội của vụ giết người của bố mẹ.
SƯU TẦM VÀ BIÊN SOẠN SONG NGỮ CHO CÁC BLOGGER

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2010

Brighton & Hove: World Naked Bike Ride (WNBR) 2010


Brighton & Hove: World Naked Bike Ride (WNBR) 2010




Xe đạp Trần truồng Thế giới Cưỡi (WNBR) 2010
IN

Brighton & Hove:


More than 1,000 cyclists took part in the World Naked Bike Ride in Brighton and Hove
More than 1,000 cyclists took part in the World Naked Bike Ride in Brighton and Hove
Hơn 1, 000 người đi xe đạp tham gia vào Thế giới Trần truồng Xe đạp Cưỡi ở Brighton và Hove

Cyclists gathered at The Level to begin the ride around Brighton and Hove
Cyclists gathered at The Level to begin the ride around Brighton and Hove
 Người đi xe đạp tụ tập tại The Cấp để bắt đầu đi quanh Brighton và Hove

Riders of all ages and in varying states of undress
Các trần như bạn dám đi xe đạp bị bỏ qua một lệnh cấm về sự kiện này để tham gia vào thứ năm của thành phố hàng năm Naked Bike Ride.
The aim of this event is to protest against oil dependency and the vulnerability of cyclists
Riders của tất cả các lứa tuổi và trong các tiểu bang khác nhau của cởi quần áo
Participants seemed to be eager to join this event
 Những người tham gia dường như mong muốn tham gia sự kiện này
It was a great success, with more rides and more riders than ever before
Đó là một thành công lớn, với rides nhiều hơn và người đi hơn bao giờ hết

Participants painted unique images on their body
Participants painted unique images on their body
 Những người tham gia vẽ những hình ảnh độc đáo trên cơ thể của họ

The bare as you dare cyclists ignored a ban on the event to take part in the city\'s fifth annual Naked Bike Ride.
The bare as you dare cyclists ignored a ban on the event to take part in the city's fifth annual Naked Bike Ride.
Các trần như bạn dám đi xe đạp bị bỏ qua một lệnh cấm về sự kiện này để tham gia vào thứ năm của thành phố hàng năm Naked Bike Ride.



Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2010

Hoa hồng bảy sắc cầu vồng


Hoa hồng bảy sắc cầu vồng
Bằng công nghệ hiện đại, người Hà Lan đã tạo ra một loại hoa hồng với đủ các màu sắc trên cánh hoa.
   Nếu sau gần 20 năm nghiên cứu, các nhà khoa học Nhật Bản đã lai tạo thành công hoa hồng xanh thì giờ đây, bằng công nghệ hiện đại, Peter Van de Werken - chủ công ty Den Bosch ở miền Nam Hà Lan, đã dùng một loại thuốc nhuộm được chiết xuất từ tự nhiên cấy vào cây hoa khi chúng vẫn đang trong thời kỳ phát triển để tạo thành loài hoa hồng bảy sắc cầu vồng.
    Ông Van de Werken, 36 tuổi, cho biết: "Tôi cùng một người đồng nghiệp của mình có ý định phải sản xuất ra một loại hoa thật đặc biệt, không ở nơi đâu có. Và ý tưởng, loài hoa hồng có đủ các sắc màu bắt đầu từ đấy".
     Ông cho biết thêm: "Đầu tiên, chúng tôi cố gắng phun thuốc nhuộm lên mỗi cánh hoa, nhưng không thể làm được. Sau 6 tháng nghiên cứu, trải qua nhiều thất bại, cuối cùng, chúng tôi đã tạo ra bông hoa hồng bảy sắc cầu vồng đầu tiên".
     Những bông hoa là món quà rất thú vị và độc đáo trong những ngày đặc biệt như Valentine, sinh nhật, 8/3...Giá của mỗi bó hoa khoảng 12 bông là 50 bảng Anh.

Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2010

10 LĂNG MỘ NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI (2)


10 LĂNG MỘ NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI (2)

Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới

    Một trong những lí do có những lăng mộ quy mô và đồ sộ như thế này chính là tín ngưỡng của con người về cuộc sống sau khi qua đời. Và dĩ nhiên với các bậc vua chúa, vương giả thì sự đồ sộ ấy còn thể hiện vương quyền của họ.


Pantheon: Rome, Italy
Một trong những lăng mộ quan trọng và có ý nghĩa trong lịch sử đó là Pantheon mà ban đầu mục đích xây dựng của nó là dành cho các vị thần. Theo nghĩa đen tên của nó có nghĩa là “Ngôi đền của tất cả các vị thần” được xây dựng tại Roma.
Nó được xây dựng lại vào khoảng năm 125 sau công nguyên trong thời kì của đế chế Hadrian.
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Bề ngoài cổ kính 
Những công việc liên quan đến xây dựng công trình này từng gây tranh cãi rất nhiều. Ngôi đền bách thần này hiện tại là nơi chôn cất của những người nổi tiếng sau khi họ qua đời. Pantheon được coi là công trình được bảo quản tốt nhất trong số tất cả những tòa nhà của người La Mã và có lẽ nó cũng là tòa nhà được bảo vệ tốt nhất trên thế giới. Nó được sử dụng gần như liên tục trong suốt các thời kì lịch sử.
 Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Và kiến trúc bên trong cực kì hoành tráng
Kể từ thời Phục Hưng Pantheon đã được sử dụng như một lăng mộ. Trong số những người được chôn cất ở đây có danh họa Raphael và Annibale Carracci, nhà soạn nhạc Arcangelo Corelli và kiến trúc sư Baldassare Peruzzi. Cũng được chôn cất ở đây là hai vị vua xứ Italy: Vittorio Emmanuelle II và Umberto I cũng như nữ hoàng của Umberto - Margherita.
Westminster Abbey: Luân Đôn, Anh.
Nếu nhìn vào công trình này không ai nghĩ nó lại là một nơi an nghĩ vĩnh hằng. Ngôi chùa Collegiate của St Peter tại Westminster thường được gọi với cái tên gốc là Westminster Abbey. Đây là một ngôi chùa lớn thuộc kiến trúc Gothic ở Luân Đôn. Nó là địa điểm làm lễ đăng quang truyền thống và là nơi chôn cất của các vua chúa ở nước Anh.
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Bề ngoài nó như một ngôi chùa
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Bên trong với những kiến trúc vô cùng lộng lẫy
Các thành viên quý tộc thì được chôn trong nhà nguyện, nhà tu hành và những người liên quan đến Abbey được chôn cất tại Cloisters và những khu vực liên quan. Một trong những người được chôn cất ở đây là Geoffrey Chaucer – người có những căn hộ tại Abbey nơi mà ông làm việc như là thầy của các vị vua. Một số nhà thơ được chôn cất xung quanh Chaucer được biết đến như là: John Milton, William Wordsworth, Thomas Gray, John Keats, Percy Bysshe, Robert Burns, William Blake, T.S. Elliot và Gerard Manley Hopkins…
St. Peter’s Basilica: Vatican City
Theo truyền thống của đạo Thiên chúa đây là nơi chôn cất của những người có tên chung là Saint Peter – một trong mười hai tông đồ của chúa Jesus. St. Peter là một trong số những nhà thờ nổi tiếng nhất tại Rome.
Có khoảng hơn 100 phần mộ nằm trong khu quần thể St. Peter’s Basilica phần lớn được đặt ở hang động Vatican, bên dưới khu vực Basilica. Nó bao gồm 91 giáo hoàng St. Ignatius của Antioch, Holy Roman Emperor Otto II và nhà soạn nhạc Giovanni Pierluigi da Palestrina.
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Những thành viên hoàng gia Anh bị đày ải là James Francis Edward Stuart và hai con trai của ông Charles Edward Stuart và Henry Benedict Stuart cũng được chôn cất tại đây.
Cũng được chôn cất ở đây còn có Maria Clementina Sobieska, vợ của Charles Edward Stuart, và nữ hoàng Christina của Thụy Điển – người đã thoái vị để chuyển sang đạo công giáo. Người được chôn cất gần đây nhất tại nhà thờ này là Pope John Paul II ngày 8/4/2005.
Lăng mộ của Cyrus đại đế: Iran
Lăng mộ cổ này được khai quật tại Pasargadae, - một thành phố của nền văn minh cổ Ba Tư được tin tưởng là ngôi một của một trong những vị vua nổi tiếng nhất Ba Tư – Vua Cyrus đại đế. Ngày nay nó là một trong những nguồn khảo cổ quan trọng và là một trong năm kì quan thế giới theo công nhận của UNESCO tại Iran.
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Lăng mộ kiến trúc đơn sơ nhưng có hàng nghìn năm tuổi
Tuy nhiên những vấn đề liên quan đến lăng mộ này vẫn luôn là bí ẩn và gây tranh cãi.
Kim tự tháp Giza: Ai Cập
Kim tự tháp Giza là một trong 7 kì quan duy nhất của thế giới cổ đại còn tồn tại cho đến ngày nay. Nó cũng được gọi là kim tự tháp của Khufu hay kim tự tháp Khufu, kim tự tháp Cheops.
Phần 2: 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới,
 Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. 
Peter’s Basilica, Westminster Abbey, Pantheon
Kim tự tháp Giza...
Phần 2:
 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp 
Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. Peter’s Basilica, Westminster Abbey, 
Pantheon
...là lớn nhất trong quần thể 3 kim tự tháp...
Phần 2:
 10 lăng mộ nổi tiếng nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, Kim tự tháp 
Giza, Lăng mộ, Cyrus đại đế, St. Peter’s Basilica, Westminster Abbey, 
Pantheon
...với tượng nhân sư nổi tiếng
Lăng mộ này là một trong những chứng tích lịch sử có ý nghĩa nhất, cổ nhất và lớn nhất trong số 3 kim tự tháp ở khu vực Giza Necropolis. Giza được tin tưởng được xây dựng như một lăng mộ cho vị vua thứ 4 của Ai Cập trong khoảng 20 năm vào giai đoạn năm 2560 trước công nguyên. Đây cũng là công trình cao nhất của loài người trong hơn 3.800 năm qua.




Bài đăng Phổ biến

Nhãn