.

.
Hiển thị các bài đăng có nhãn NÉT ĐẸP TRÀNG AN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NÉT ĐẸP TRÀNG AN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 1, 2011

Ẩm thực Hà Nội - bún cá

"Có một món quà bình dân ở Hà Nội mà người ta có thể ăn ở mọi chỗ mọi nơi vào bất cứ lúc nào sáng, trưa, chiều, tối hợp với khẩu vị mọi người: đó là món bún...."
...Nhìn tô bún cá bốc khói thơm phức của cô bé học trò trên phố Hàng Lược, tôi không thể nén nổi tính "ham ăn" (và rất ham chơi), nên đành tạm hoãn chuyến "công du " khắp phố phường Hà Nội để được thưởng thức một trong những món ăn mà người Hà Nội ưa thích. Có tới trên chục món bún khác nhau, có thứ rất dân dã, có thứ đã lên ngôi đặc sản và có quanh năm. Chỉ riêng với bún riêu quả nhót nấu với trứng cua và bún cá thì đến mùa mới có. Cuối tháng ba âm, cây nhót trĩu quả chín đỏ vườn cũng là mùa cua đồng sắp đẻ. Nồi canh cua đồng có nhót trứng cua ấy chan vào bát bún làm nổi lên màu rực rỡ chói chang mà cũng khác hẳn mùi vị các loại bún riêu cua không có nhót nhưng cũng chẳng thơm ngọt bằng bún cá.
 

Muốn ăn bún cá phải đợi đến mùa rau cần vào dịp tháng chạp cuối năm ta tới cữ tháng giêng hai đầu xuân vẫn còn. Rau cần kết duyên cùng bún cá gợi mùi thơm ngát món hương quê. "Bún cá mà thiếu mặt rau cần chẳng khác nào một cô gái vô duyên "ngồi" khép nép một mình, trong bát không nổi sắc cũng chẳng đưa hương, bát bún cứ chông chênh, nhợt nhạt chẳng hề ngửi thơm mùi cá." ( Theo lời người Hà Nội)

Cá để nấu bún thường là cá quả tầm 3 lạng tới nửa cân. Cá đánh vẩy, chặt vây xong lọc lấy hai bên sườn, thái mỏng rồi bỏ chảo chiên giòn, cháy cạnh.

Xương và đầu cá bỏ vào nồi khác đổ đầy nước ninh nhừ, nêm gia vị, thêm ít dọc hành tươi, thìa là thái vụn, bỏ cả vào nồi đun sôi lại, làm nước để chan. Rau cần nhặt bỏ rễ, rửa sạch bùn đem thái khúc rồi xào tái cùng với những miếng cà chua bổ docj miếng cau. Khi ăn, mỗi tô bốc một lượng bún vừa đủ, gắp 2/3 cần xào tái, 1/3 cần sống, phủ lên mặt bún,cuối cùng rải những miếng cá rán rắc tiêu bột lên trên và múc nước canh sôi bỏng ngập bát, ăn ngay lúc đang nóng. Bún cá rau cần hay bún cua quả nhót ở Hà Nội quả thật khác với bún cá, bún cua ở các nơi khác trên đất nước.

Đến với Hà Nội, không thể không đi thăm 36 phố phường đông đúc như mê cung cổ kính, lại càng không thể không thưởng thức các món ăn truyền thống nơi đây. Hà Nội, thành phố vì hoà bình, thành phố của tình yêu...

Phiên chợ Bưởi - Nét văn hóa Thăng Long

Ca dao có câu: “Chợ Bưởi một tháng sáu phiên. Ngày tư, ngày chín cho duyên đèo bòng“. Ấy là nói đến chợ Bưởi ở vùng Kẻ Bưởi (nay thuộc quận Tây Hồ), một trong những chợ cổ nhất Hà Nội duy trì hình thức họp chợ phiên.

Kẻ Bưởi xưa là vùng ven Hà Nội, gồm các làng Yên Thái, Hồ Khẩu, Đông Xã, Trích Sài, Võng Thị, Bái Ân, Trung Nha… Giống như nhiều chợ cổ Hà Nội (cận sông, tiện đường đi), chợ Bưởi nằm bên vị trí hợp lưu của sông Thiên Phù và sông Tô Lịch, thuận lợi về mặt giao thương trên bến dưới thuyền.
Các bậc tiền bối kể lại rằng, xưa kia, bưởi vùng mạn ngược theo dòng chảy trôi về rất nhiều, người ta thấy vậy liền vớt lên bán, dần dần theo thói quen gọi vùng này là vùng Bưởi và chợ nằm trong khu vực này cũng gọi là chợ Bưởi.
Chợ Bưởi hình thành chính xác năm nào thì không ai rõ, ngay đến các vị cao niên vùng này cũng chỉ biết rằng, khi sinh ra thì chợ đã có từ lâu. Một số tài liệu thì cho rằng, chợ Bưởi có thể hình thành từ đời Lý, nhưng cũng có những nhà nghiên cứu lại bảo chợ hình thành từ giữa thế kỷ 19. Và điều mọi người đều không thể phủ nhận, đây là một trong những chợ có tính lịch sử, văn hóa vào bậc nhất ở mảnh đất Thăng Long-Hà Nội này.
Một góc chợ Bưởi. (Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam)
Đặc biệt, chợ Bưởi cùng với chợ Mơ là một trong số ít các chợ còn duy trì hình thức họp chợ phiên ở nội thành Hà Nội và cứ tới các ngày 4, 9, 14, 19, 24, 29 âm lịch, dân các khu vực lân cận lại kéo về chợ Bưởi bán cây, con giống, vật dụng nông nghiệp, sản vật làng nghề...
Chợ Bưởi cổ chỉ là những dãy lán bằng phên nứa và chỉ có 1 – 2 dãy nhà gỗ mà người mua kẻ bán ở đây quen gọi là cầu chợ. Trước những năm 30 của thế kỷ trước, người Pháp cho xây dựng hai cầu chợ bằng bê tông kiên cố che mưa nắng. Mang tính chất chợ vùng ven, chợ Bưởi là nơi trao đổi, mua bán sản phẩm các làng nghề vùng Kẻ Bưởi làm ra như dệt lĩnh Yên Thái, Bái Ân, giấy của làng Yên Thái, Hồ Khẩu, Đông Xã và dụng cụ sản xuất nông nghiệp của vùng Xuân La, Xuân Đỉnh.
Xung quanh khu vực chợ Bưởi, hoạt động sản xuất thủ công tương đối phát triển, chợ Bưởi theo đó cũng sôi động vào các phiên chợ, người mua bán tấp nập. Nơi này cũng là chỗ để người dân lân cận mang cây con giống đến bán từ mớ rau thơm, bó cải giống đến chó mèo, lợn gà, thỏ, chim…
Dân vùng Tây Tựu, Cổ Nhuế, Xuân La, Xuân Đỉnh với mặt hàng rau giống, hạt giống, công cụ nông nghiệp; dân vùng Nhật Tân, Quảng An, Quảng Bá với các loại cây cảnh, hoa cảnh. Người Hà Nội cũ muốn mua bất cứ thứ gì mang tính dân dã, đến chợ Bưởi là sẽ tìm thấy. Vậy nên, chợ Bưởi cũng trở thành nơi thăm thú của nhiều người rảnh rỗi, yêu chim thú, hoa cây cảnh ở khắp các nơi trong Hà Nội. Đặc biệt, những năm xa xưa, cứ đến ngày 29 Tết, chợ Bưởi còn có thêm một nếp là mổ trâu bò và dân các làng vùng Bưởi cùng nhau mua trâu bò rồi giết mổ tại chợ, chia nhau ăn Tết...
Ngày nay, chợ Bưởi đã xây dựng khang trang, hiện đại, thuộc sự quản lý của Tổng công ty Thương mại Hà Nội, nhưng riêng phiên chợ vẫn được duy trì bằng cách quy hoạch một khu vực riêng để người dân có cơ hội mua bán cây, con giống.
Ông Nguyễn Văn Thế, Phó giám đốc Công ty cổ phần chợ Bưởi, một người xuất thân từ làng Yên Thái, có nhiều gắn bó với chợ từ nhỏ cho biết: “Chúng tôi đang cố gắng xây dựng chợ Bưởi thành một chợ văn minh, hiện đại trong những nét văn hóa truyền thống”.
Ai muốn mua hạt giống, cây giống, chó, mèo, thỏ, chim… đều có thể tìm thấy ở các phiên chợ ngày nay, nhưng dẫu vậy, phiên chợ Bưởi nay không thể phong phú như trước, nhiều mặt hàng không còn do sự chọn lọc của nhu cầu cuộc sống.
Ở chợ Bưởi còn duy nhất một hàng bán công cụ nông nghiệp, nhưng ông Nguyễn Văn Thế cho rằng, có lẽ bà chủ hàng này không duy trì được bao lâu. Và ông cũng nhẩm tính rằng, người bán con giống lâu năm ở chợ phiên còn độ 6 – 7 người, bán cây giống cũng còn gần 10 người; ngoài ra cứ tới phiên chợ một số người khác cũng có thể đem đến bán, ví như nhà nào đó nuôi được ổ chó đẻ hoặc mèo đẻ.
Là người có thâm niên gắn bó trên 50 năm với các phiên chợ Bưởi, từ thủa 13,14 tuổi tấp tểnh theo bà, theo mẹ đi phụ bán hàng, bà Nguyễn Thị An ở phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy tâm sự: “Lãi lờ từ bán cây giống chẳng đáng bao nhiêu nhưng đã quen bán hàng này ở phiên chợ Bưởi rồi nên tôi cũng không chuyển sang kinh doanh hàng khác”. Và cũng không hiểu cơ duyên nào mà cả hai con dâu bà cũng cắp thúng theo mẹ chồng bán hạt giống, cây giống ở khu vực chợ phiên này. Trước kia, gia đình bà cũng chuyên làm cây giống nhưng rồi đất đai thu hẹp dần nên giờ đây cả ba mẹ con đều mua lại hàng của nông dân ngoại thành đem vào.
Cũng có thâm niên gắn bó với các phiên chợ Bưởi từ hơn 20 năm nay, anh Nguyễn Mạnh Hà ở làng Đông, phường Bưởi (nay thuộc tổ 21 phường Bưởi) lại chuyên kinh doanh chó, mèo. Không chỉ bán ở các phiên chợ Bưởi, anh Hà còn bán ở phiên chợ Mơ (các ngày 2, 7), phiên chợ Hà Đông (các ngày 5, 10), chợ Trôi (các ngày 1, 6), chợ Canh Diễn (các ngày 3, 8). Mỗi phiên chợ anh cũng chỉ bán được mỗi loại vài con nhưng dù sao theo anh không làm nghề này cũng chưa biết kiếm nghề gì hơn.
Anh Hà cho rằng, chợ phiên Bưởi ngày nay thu hẹp hơn trước nhưng chắc chắn vẫn còn tồn tại vì nhiều người còn thích nuôi chó mèo, trồng cây hoa cảnh, cho dù diện tích nhà họ nhỏ hẹp.   Có lẽ, chính bởi lý do này nên cho dù cuộc sống phát triển theo hướng hiện đại, Hà Nội đô thị hóa quá nhanh nhưng các phiên chợ Bưởi vẫn tồn tại như một nét văn hóa riêng của Thăng Long – Hà Nội./.

Rượu "mắt cua" Tiền Lệ, nét duyên trong ẩm thực Hà thành

Khệ nệ bưng trên tay vò rượu sành, bác Nguyễn Văn Trạch, người có thâm niên nấu rượu trong làng từ từ rót ta một chiếc ly, những bọt bong bóng nhỏ li ti nổi lên giống như những đôi mắt cua giương lên trong vắt. Chính vì vậy mà người dân nơi đây vẫn hay gọi là rượu “mắt cua”, thứ rượu dùng để đãi khách quý ở xa mới về và là thức uống không thể thiếu để lại những dư vị nồng nàn trong những bữa tiệc làng.

Không giống như một số loại rượu gạo thông thường, khi uống rượu “mắt cua” người ta sẽ không còn thấy cái vị xông gắt, khê nồng, đắng chát hay nhạt nhẽo, lành lạnh nơi cổ họng mà cái vị cay cay, êm êm và sau đó là the the, ngòn ngọt cứ tan dần trong miệng làm tê tê đầu lưỡi, vòm họng… khiến cho người ta có cảm giác thích thú, đắm say ngay từ lần đầu thưởng thức.
Nói về cách thức để làm ra cái thứ rượu say êm này thì chỉ ở làng Tiền Lệ (Tiền Yên – Hoài Đức – Hà Nội) mới kỳ công đến vậy. Từ khâu chọn gạo, làm men, lên men đến chưng cất thành rượu… tất cả đều được thực hiện một cách hết sức cầu kỳ. Gạo được chọn nấu rượu phải là loại nếp cái hoa vàng, nấu thành cơm vừa chín tới, nếu sống hoặc bén cháy thì rượu sẽ bị nồng và khê, khi lắc chai hoặc rót ra ly, rượu sẽ không có mắt cua và mùi thơm nữa. Đợi cho cơm nguội hẳn thì bắt đầu vào men và ủ khoảng 3 ngày 3 đêm. Đợi cho men “dậy”, cho vào nồi và tiếp tục ngâm khoảng 6 ngày đêm rồi mới đem nấu rượu. Tuy nhiên, để cho ra được loại rượu đặc sản “mắt cua” thì men đem ủ rượu phải là loại men ta, thứ men chứa khoảng từ 32 đến 36 vị thuốc bắc.
Đặc biệt nhất là cách nấu rượu của người dân Tiền Lệ, họ không sử dụng cách nấu “thuỷ hạ” như một số loại rượu thông thường, nghĩa là cho hơi nước chạy trong ống đồng qua một bể nước. Thay vào đó, họ sử dụng phương pháp nấu “thuỷ thượng”, hơi nước trong nồi rượu được bốc lên một chiếc chậu sành có bộ phận làm lạnh ở trên cũng bằng sành, sau đó cho rượu chảy ra một ống tre dài hơn 1m. Điều đặc biệt nữa là người dân ở Tiền Lệ không nấu rượu bằng bếp than như những nơi khác vì theo họ hơi rượu bốc lên mạnh, rượu sẽ khé cổ, không ngon và dễ gây ra hiện tượng đau đầu khi uống. Để cho ra thứ rượu như ý, người dân nơi đây thường đun bằng củi hoặc trấu, lửa không được để cho bốc thành ngọn mà chỉ dùng hơi nóng của than củi hửng đỏ hoặc hơi nóng của đống trấu được đốt ở dưới nồi để cho rượu chảy nhỏ giọt vào vò.
Nhìn những ly rượu nổi lấm tấm những “mắt cua” trong vắt và thơm nhẹ, nhấp thử một ngụm và từ từ cảm nhận vị cay cay rồi ngay sau đó là ngòn ngọt cứ tan trong cổ họng, một cảm giác lâng lâng, dễ chịu cứ từ từ lan tỏa. “Rượu ngon phải là thứ rượu không mùi nồng nặc mà nó có mùi thơm thơm dìu dịu trong hơi thở. Đó mới là thứ nước hoa đặc biệt của người đàn ông…”, bác Nguyễn Văn Trạch chia sẻ.
Thưởng thức rượu dường như đã trở thành một phần không thể tách rời trong sinh hoạt văn hóa, lễ hội và giao tiếp của người Việt. Và đối với người dân Tiền Lệ cũng vậy, rượu “mắt cua” đã trở thành biểu tượng chứ đựng những giá trị tinh thần của người dân nơi đây trong mỗi bữa tiệc làng. Trong những ly rượu đó, người ta tìm thấy sự quen thuộc và mộc mạc, nhưng lại chứa đựng biết bao tâm huyết của những người làm ra chúng, làm ra những giá trị văn hóa, tạo nên nét duyên cho nền ẩm thực chốn Kinh kỳ…

Đậu phụ nướng Hà Nội

Trong mỗi buổi cơm mai hay cơm chiều, người ta thường chọn đậu phụ làm món chủ đạo cho bữa ăn gia đình.Đậu phụ trong bữa ăn thường là rán, luộc hay kho thịt, rim tiêu... Mỗi món ăn đều có những gia vị và cách chế biến khác nhau làm nên khúc biến tấu đầy sắc màu của thức quà dân dã và bình dị này.
Dẫu vậy, người Hà Nội vẫn nặng lòng với một món cũng làm từ đậu phụ nhưng mang  hương vị quen mà lạ: đậu phụ nướng. Ngay từ trong cái tên thô mộc ấy, thực khách đã cảm nhận cả cái ấm nóng, cái vồn vã và bình dân không lẫn vào bất kỳ món ăn nào.
Buổi tối, lang thang trên phố Bạch Mai hay những con hẻm sâu hun hút ở hút làng Mai Động nghe tiếng từng tốp trai thanh, nữ tú gọi từ một quán nhỏ với vài sập ghế bên vỉa hè cái tên quen “đậu phụ” nhưng đầy lạ lẫm với động từ “nướng”. Khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng: “Đậu phụ, sao mà nướng được?” Điều tưởng chừng lạ lẫm ấy tạo nên duyên để níu chân người khách lạ. Đâu đó trên những con phố, ta sẽ bắt gặp hình ảnh thân quen của bà già gánh một bên là cái chậu sành, bên trong nóng ấm với tro bếp và phủ trên là than hoa cháy rực rỡ, còn một bên là cái thùng ngâm đậu phụ sống trong nước. Khi có khách gọi, bà hàng “đậu phụ nướng” dừng bước chân, dỡ trên vai gánh hàng rong đặt nhẹ xuống đất, sắp sắp vài chiếc ghế con xung quanh, mâm ăn đặt trên cái thùng đựng đậu. Trên mâm là bát mắm tôm đã vắt chanh, được quấy sủi bọt thành dạng kem, mềm và xốp, một đĩa nhỏ rau kinh giới đã rửa sạch, vài quả ớt xanh đỏ, cay nồng và không thiếu một đĩa gia vị muối chanh cho những khách không quen ăn đậu phụ với mắm tôm.
Một bếp than hồng nho nhỏ, một bà hàng gầy gầy một bên tay cầm chiếc quạt nan nhè nhẹ làm hồng những hòn than đang ngủ, tay kia trở những bìa đậu cho đến khi vàng, khách gọi thì nhấc ra khỏi vỷ nướng, đặt nhẹ nhàng trên chiếc đĩa sứ trắng tinh. Khách ẩm thực nhìn nhau trầm trồ tán dương cái vị không dễ quên ấy, ấm nóng thấm sâu đến tận con tim. Thú thưởng thức đậu phụ nướng phải dùng tay để bẻ từng miếng đậu, quệt ngang trên mặt bát mắm tôm xinh xinh, rồi tay kia nhón vài cọng kinh giới, cắn một miếng ớt bỏ vào miệng cay nồng, chao ơi, đấy mới là “cực điểm” của cái ngon. Đối với khách là những đấng nam nhi, sẽ thú hơn nếu trước mỗi miếng đậu không quên làm một “tợp”rượu,  cái ngất ngây của men say, ấm nóng và cay nồng của ớt, cái thơm, bùi béo của đậu sẽ làm ấm lòng người trong cái lạnh của gió đêm thu hay ngày đông trở mình.
Đậu phụ ngon thường là đậu Mơ -thứ đậu lưỡi mèo đem theo cái tinh khiết của nước giếng chùa. Khu vực làng Mai Động, Hoàng Văn Thụ xưa là xứ “kẻ mơ” thường có thú đãi khách bằng “đậu phụ nướng” và “nước đậu”(đậu tương xay, lọc  lấy nước, cho chút muối rồi đun sôi). Những gia đình làm đậu để bán, mỗi sáng tinh mơ đi chợ, các bà đều không quên để lại cho chồng một vài bìa đậu bắt mắt nhất, ngâm trong nước đun sôi để cho cánh đàn ông nướng nhắm rượu và cũng không quên để phần một bát nước “đậu xay” để làm giã rượu và thỏa mãn cái thú ẩm thực bình dân.
Món quà dân dã ấy gởi lại trong lòng người Hà Nội bao điều nhung nhớ mỗi tiết thu hay khoảnh khắc sang Đông. Một thứ quà dân dã làm ấm tình nhau…để rồi khi chân bước qua những con phố như Hoàng Văn Thụ, Bạch Mai, Hai Bà Trưng…, lòng lại thầm gọi tên “đậu phụ nướng”.

Hoa nhài - vẻ đẹp thanh lịch của đất Hà Nội

Không biết tự bao giờ, hình ảnh của hoa nhài đã gắn bó với vẻ đẹp thanh lịch của đất và người Hà Nội...
Hàng hoa trên phố cũ
Góc phố Đội Cấn giáp với chợ Ngọc Hà những buổi sớm mai thường có một bà cụ già lặng lẽ bên rổ hoa nhài.
Trong dòng người xe hối hả, chẳng mấy ai để ý bà cụ già nua ấy. Còn cụ dường như cũng chẳng để ý đến dòng người tấp nập trước mặt, cũng không chào mời người mua.
Lân la trò chuyện, biết tên cụ là Trịnh Thị Dần, năm nay đã 86 tuổi, người làng Ngọc Hà gốc. Cụ Dần mái tóc bạc trắng, nhưng tiếng nói còn mạnh mẽ và hàm răng nhuộm đen đều tăm tắp.
Cụ Dần kể, ngày xưa ở làng Ngọc Hà trồng rất nhiều hoa nhài. Mỗi nhà đều dành đất để trồng vài luống hoa. Thế nhưng thời buổi "tấc đất tấc vàng" bây giờ còn rất ít người trồng hoa nhài, bởi thu nhập từ việc trồng hoa nhài cũng chẳng đáng là bao, lại còn phải chăm bón vất vả. Nhiều nhà bán đất hoặc làm nhà cho thuê có thu nhập cao hơn.
Hoa nhài mà cụ Dần bán có hai loại: một loại chỉ toàn bông trắng tinh, bán cho những người mua về ướp chè nhài, bán chè hoặc tào phớ; một loại hoa nhài cành bán cho những ai thích mua về cắm trong nhà.
Theo cụ Dần, hoa nhài bắt đầu nở rộ từ từ tháng 4 đến tháng 6. Vào chính vụ, có hôm cụ bán hàng cân bông hoa nhài.
Hoa nhài cành thì đầy rổ lớn. Từ mùa thu hoa ít dần và mùa đông thì hầu như không có. Vào thời điểm đó, cụ Dần bán kèm thêm các loại cây lá trong vườn như: lá vông, lá đề, lá ngải, tía tô, hẹ...
Việc chăm bón hoa nhài cũng phải có cách riêng. Cụ Dần bảo: "Chăm hoa cũng chăm trẻ con, cũng phải cho nó ăn uống". Về mùa đông, phải buộc nó vào và chăm tưới tắm, nếu không sẽ bị chết. Phải bón đất phù sa cho cây để mùa xuân cây đâm chồi, cho hoa nhiều."
Theo lời cụ, hoa nhài muốn thơm không được hái non. Phải hái vào buổi chiều, cho đến tối, không hái vào buổi sáng, hoa bị nước mưa hoặc sương vào thì không thơm.
Thu nhập từ hoa nhài của cụ cũng không đáng kể bởi mỗi nắm hoa giá chỉ vài nghìn đồng. Hôm nào bán nhiều thì được gần một trăm nghìn, ngày ít thì chỉ 2-30.000 đồng. Số tiền ấy còn phải trả công cho người làm đất, rồi mua đất phù sa để bón cho cây.
Dù tuổi đã cao, nhưng cụ Dần hàng ngày vẫn thích chăm bón cho hoa nhài để không phải dựa vào con cháu và cho thêm vui tuổi già.
Khách của cụ Dần thường là khách quen. Chị Bùi Thu Phương (hiện sống ở số nhà 130 Đốc Ngữ - Hà Nội) cho biết chị mua hoa nhài đơn giản vì thích hương thơm thanh khiết của nó gợi nhớ Hà Nội xưa và cũng vì niềm yêu mến vẻ mộc mạc, giản dị của người bán.
Còn bà Nguyễn Thị Thanh Bình (ở phố Ngọc Hà), sau khi mua một nắm hoa nhài và vài mớ rau hẹ, rau ngải đã động viên cụ Dần rằng: Các cụ chăm bón cho hoa, bán hoa như thế này cho thêm vui khoẻ, vận động được thì khí huyết nó lưu thông, tinh thần thoải mái, sảng khoái...
Xin giữ lại chút hương xưa
Câu chuyện với cụ Dần đang rôm rả thì cụ bà Ngô Thị Phương (73 tuổi) cũng người làng Ngọc Hà- là bạn già bán hoa nhài giống cụ Dần tới góp chuyện. Trên chiếc rổ của cụ Phương cũng chỉ còn vài nắm hoa nhỏ.
Cụ Phương kể rằng, trước kia nhà cụ cũng nhiều đất trồng hoa nhài, nhưng bây giờ thì chỉ còn khoảng 100 mét vuông, vì đất chia cho con cháu cả rồi.
Theo như lời cụ Dần và cụ Phương, các cụ cũng chẳng biết còn được trồng nhài đến khi nào nữa, vì nếu con, cháu bán đất thì cũng đành chịu. Chắc là hình ảnh những vườn hoa nhài với những bông hoa nhỏ xíu, trắng tinh, với hương thơm thoảng nhẹ, gắn bó với vẻ đẹp của đất Hà Thành sẽ ngày càng vắng bóng...
Tạm biệt hai cụ già làng hoa Ngọc Hà, tôi cứ thầm mong các con, cháu cụ đừng bán đất, để các cụ vẫn có niềm vui tuổi già bên những luống nhài, để những người yêu loài hoa này vẫn còn có dịp thưởng thức hình ảnh và hương thơm của một loài hoa đã từng gắn với hình ảnh của một Hà Nội êm đềm, thanh bình, xưa cũ.../.

Nét văn hóa trong trang phục của người Hà Nội

Trong kho tàng văn hóa dân gian có câu ngạn ngữ "ăn Bắc, mặc Kinh", để chỉ nét đẹp của người kinh đô Thăng Long từ xưa đến nay qua trang phục mang đậm dấu ấn Hà thành cổ kính, thanh lịch.
Đến ngày nay, nhiều ca dao, tục ngữ vẫn còn lưu truyền, ngợi ca vẻ đẹp con người được quần áo tôn thêm gấp bội. Vẻ đẹp của một người phụ nữ phải là:
"Khăn nhung vấn tóc cho vừa
Đi giày mõm nhái, đeo hoa cánh bèo.
Quần thâm lĩnh Bưởi cạp điều
Hột vàng quấn cổ ra chiều giàu sang".
Vẻ đẹp của các công tử con nhà giàu thị dân cũng đã có tiêu chí một thời:
"Thấy anh áo lượt xênh xang,
Đồng hồ quả quít, nhẫn vàng đeo tay,
Cái ô lục soạn cầm tay,
Cái khăn xếp nếp, cái dây lưng điều".
Hay:
"Giày ban bóng láng nuột nà,
Khăn xếp chữ nhất, quần là nếp tư".
Trải qua tiến trình dựng và giữ nước, cách ăn mặc của người Hà Nội cũng có sự thay đổi theo mỗi thời đại, nhưng vẫn giữ được nét thanh lịch, đậm nét văn hóa của vùng Thăng Long – Hà Nội nghìn năm văn hiến.
1. Trang phục người Hà Nội thời Hùng Vương
Chứng cứ khoa học cho thấy người Hà Nội biết cách ăn mặc đẹp từ thời Hùng Vương. Nhìn vào những hình trang trí trên trống đồng Cổ Loa (đào được trong lòng đất Cổ Loa, Đông Anh - Hà Nội) đã có thể hình dung được người Hà Nội khi đó trong trang phục ngày hội: đầu đội mũ có gắn lông chim, quần áo cũng làm bằng long chim.  Cũng có thể đó là hình những chiến binh đang cầm vũ khí, trên vũ khí lại được cắm lông chim vì chim dường như là vật tổ của cộng đồng người Việt cổ khi đó, hình ảnh này được miêu tả đáng yêu và phổ biến trên trống đồng. Cũng có cảnh đôi trai gái giã gạo, người con trai được miêu tả như mặc khố chứ không phải mặc áp ngày hội. Hình ảnh trang phục còn được thể hiện hết sức sống động và duyên dáng nơi tượng người phụ nữ khắc họa trên cán dao găn thời này: mặc áo chẽn, bó gọn lưng ong, váy dài chấm gót, có nhiều hoa văn đẹp trên váy áo, thắt lưng ngang hông, đầu đội mũ cao, thắt dải ngang trán.
Đối với trang phục thường ngày thời kỳ này không khác biệt nhiều so với trang phục của người dân Văn Lang - Âu Lạc nói chung: Nam mình trần, đóng khố, thân thể, chân tay đều có xăm hình giao long (rồng) và các hình khác. Nữ mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực bó sát vào người, phía trong mặc yếm che kín. Hai loại áo này có thể là chui đầu hoặc cài khuy bên trái, trên áo cũng có hoa văn trang trí. Thắt lưng có ba hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng làm cho thân hình tròn lẳn. Đầu và cuối thắt lưng thả xuống phía trước và sau người, tận cùng bằng những tua rủ. Váy bó sát thân với mô típ chấm tròn, những đường gạch chéo song song và hai vòng tròn có chấm ở giữa. Màu sắc thường là màu vàng, đen, đỏ nâu, xám nhạt, vàng nhạt.
Các loại vòng tay, vòng cổ chân và vòng tai bằng đá, bằng đồng cũng là những vật liệu trang sức phổ biến cả ở nam và nữ. Đặc biệt, có những vòng hoa tai bằng đá gắn quả nhạc hay hình con thú. Những chuỗi hạt thường thấy gồm các hạt hình trụ, trái xoan hay hình cầu. Đàn ông đàn bà đều nhuộm răng đen và có tục ăn trầu cho đỏ môi.
Trang phục người Hà Nội thời Lê mạt
Sang thời Lê mạt do cơ cấu chính trị trong triều đình có nhiều thay đổi và trở nên phức tạp bởi hệ thống cung vua phủ chúa nên lối phục sức của tầng lớp quý tộc cũng ít nhiều thay đổi: Vua mặc long cổn, đội mũ tam sơn hay áo hoàng bào mang đai ngọc; Chúa mặc áo bào tía, đội mũ xung thiên mang đai ngọc; Hoàng thái tử (con vua) mặc áo xanh đội mũ dương đường; Vương thế tử (con chúa) mặc áo đỏ đội mũ cánh chuồn dát vàng, bố tử kỳ lân... Học trò và người thường khi có công việc đều mặc áo thâm, dân quê mặc áo vải thô màu trứng. Đến cuối thời Lê thì ai cũng mặc áo thanh cát màu thâm, xanh sẫm, màu sừng, màu trắng ít dùng. Có thời kỳ màu sừng là màu của tầng lớp vương, công, khanh, sĩ. Nhưng về sau bất kể người sang hèn đều mặc màu này. Còn các màu xanh sẫm, xanh nhạt thì lại cho là quê không dùng nữa (Phạm Đình Hổ (Vũ Trung tuỳ bút)).
Trang phục người Hà Nội  thời kỳ cận đại
Người Hà Nội thời cận đại rất chú ý đến cách ăn mặc. Khâu đầu tiên là chọn lựa chất liệu của quần áo. Chất liệu may áo ưa chuộng, lúc đó  là the mà phải là the dệt bằng tơ tằm, dệt thưa, nhuộm thâm, thường là the làng La Cả. Chất liệu may quần của nữ là lĩnh làng Bưởi mới là hàng tốt nhất, sợi mịn, mặt bóng. Quần của nam giới là lụa trắng làng Cổ Đô. Ngoài ra, một số chất liệu vải cao cấp cũng hay được dùng như: sa, xuyến, băng, là, xồi, đũi, nhiễu.... đều là sản phẩm của các làng nghề ở Hà Nội hay các tỉnh lân cận sản xuất. Một số hàng đặc biệt hơn dành cho vương hầu là đoạn, gấm, vóc,...
Thị dân các phố nghề, buôn bán, lao động thì ưa  quần áo màu thâm, trắng và nâu. Quần áo nuộm bằng củ nâu vừa bền màu vừa bền sợi. Phường Đồng Lâm có nghề nhuộm vải nâu nổi tiếng. Thiếu nữ mới lớn thích nhuộm màu nâu non để tôn thêm vẻ đẹp nước da trắng ngần. Các ông bà thì thích nhuộm màu tiết dê. Phường Hàng Đào lại có nghề nhuộm điều.
Trang phục người Hà Nội cuối thế kỷ XVIII đầu XIX
Cuối thế kỷ XVIII đầu XIX, trang phục của người Hà Nội đã có nhiều thay đổi cả về chất liệu lẫn kiểu dáng. Những loại vải như the, lĩnh, lượt, là được sử dụng khá phổ biến với những kiểu dáng chính như tứ thân cho nữ, áo dài cài chéo vạt cho nam. Sang trọng nữa, đàn ông, đàn bà mặc áo dài lụa trắng bên trong, ngoài lồng áo may bằng sa, xuyến hoặc băng (là những loại vải mỏng có độ bóng, đôi khi có hoa). Vương hầu, quan chức thì dùng hàng đoạn, gấm, vóc. Đoạn gần như lĩnh nhưng dày hơn. Vóc là thứ đoạn mỏng có hoa đồng màu, còn gấm có hoa dệt màu sặc sỡ hoặc bằng kim tuyến.
Hà Nội xưa còn có loại áo mặc trong đám cưới, do nhà chủ giàu có may cho tất cả các khách đến ăn cưới. Xong việc, những áo ấy được nhuộm lại, đem bán rẻ, gọi là “Cố y”. Dân lao động thì chủ yếu dùng áo vải nhuộm nâu, vải mỏng nhuộm nâu non lại là mặt hàng ưa thích của các cô gái bình dân để may áo cánh. Người khá giả cũng dùng màu nâu nhưng là lụa, đũi nhuộm nâu. Thế hệ người già thường thích màu tiết dê, tam giang. Phường Đồng Lầm (nay là làng Kim Liên, quận Đống Đa) có nghề nhuộm nâu nổi tiếng.
Lúc này, màu vàng vẫn bị cấm, chỉ dành riêng cho nhà vua và áo khoác các tượng Thần, Phật. Màu đỏ chủ yếu dùng trong tầng lớp công, hầu, khanh, tướng. Vóc đỏ hay gấm đỏ tươi còn được gọi là màu đại hồng. Con quan to mới sinh ra cũng mặc áo đỏ. Còn nhà giàu chỉ khi bố mẹ khao thượng thọ mới được con cháu mừng cho chiếc áo the đỏ. Phường Hàng Đào chuyên làm nhuộm điều. Màu hoa đào bị coi là lẳng lơ, không đứng đắn, thường dùng cho người múa hát. Màu xanh nhạt “hồ thuỷ” hoặc “thiên thanh” được dùng nhuộm áo mặc lót trong hoặc để lót lần trong áo kép, áo bông. Các cô gái vùng ngoại thành lại thích màu hoa hiên. Mặc áo cánh nâu non, yếm lụa, thắt lưng màu hoa hiên, cũng là “mốt” một thời của các cô gái Hà Nội. Chị em nhỏ nhắn thì ưa thắt một dây lưng màu quan lục, hay tam giang cho nổi rõ cái lưng ong. Kiểu áo phổ biến vẫn là tứ thân, thắt lưng bằng dải lụa màu, còn gọi là “ruột tượng”. Nhà buôn thành thị, nhà giàu xứ quê, còn đeo vào thắt lưng một bộ “xà tích” bằng bạc với chiếc ống vôi nhỏ, quả đào xinh xinh đựng thuốc lào cũng bằng bạc và chùm chìa khoá.
Ngoài ra kiểu áo 5 khuy, tay rộng cũng được giới nữ 36 phố phường chấp nhận. Khi mặc, chỉ cài 4 chiếc, để hở khuy cổ, khoe cái yếm cổ xây, ôm lấy cái cổ trắng nõn nà, cao ba ngấn. Phụ nữ phố phường hay dùng yếm trắng. Phụ nữ ngoại thành dùng yếm nâu. Hội hè mặc yếm đào, yếm hoa hiên. Các bà đứng tuổi ưa cổ xẻ, từ cổ yếm có 3 đường khâu xoè ra. Nam giới mặc áo dài năm thân, vải thâm, có khuy tết chỉ hoặc khuy đồng, khuy bạc, khuy ngọc... người hào hoa phong nhã thì mặc áo sa trơn, áo trong và quần màu trắng. Mùa rét, dùng áo kép, có thêm lần vải lụa lót màu tươi, áo bông cộc, trần quân cờ. Khi mặc, người ta còn có thắt lưng bao xanh duyên dáng kèm theo. Một vài trường hợp thực dụng hơn, người ta thắt một cái "ruột tượng: thay cho thắt lưng để đựng tiền và các thứ lặt vặt. Một số người còn đeo bên cạnh thắt lưng một chiếc xà tích bằng bạc đựng vôi ăn trầu. Có khi áo tứ thân còn thêm một vạt để cài khuy, thường là 5 khuy. Bên trong áo tứ thân là yếm trắng, yếm đào.
Ngoài trang phục ra thì trong cách ăn mặc của người Hà Nội còn có nhiều thứ phụ trang đi kèm như giày dép, mũ, nón, ô, lại thên chút đồ trang sức bằng vàng, bạc như vòng, nhẫn, dây, xuyến... để làm tăng vẻ đẹp ngoại hình.
Đáng chú ý nhất trong trang phục phụ nữ là những tà áo dài. Áo dài có từ bao giờ cũng khó xác định, có thể đã hơn trăm năm, nhưng ngày nay trở thành trang phục đẹp nhất, tiêu biểu cho cách ăn mặc đậm đà tính dân tộc của phụ nữ Việt Nam. Tại nhiều hoạt động đối ngoại của đất nước, áo dài trở thành lễ phục không thể thiếu được.
Có thể chiếc áo dài Huế cùng với chiếc nón lá Huế chóp nhọn du nhập ra Hà Nội từ lâu, nhưng chỉ đến nửa đầu thế kỷ XX, áo dài mới được người Hà Nội tiếp nhận và cải tiến nhiều. Áo dài cũng từ đó trở thành trang phục gắn bó với phụ nữ thủ đô.
Nam giới mặc áo có 5 thân, cài khuy tết chỉ hay khuy đồng, khuy bạc, khuy ngọc. Mùa đông thì cả nam và nữ thường dùng áo bông.
6. Trang phục người Hà Nội từ thế kỷ XIX đến ngày nay
Hà Nội trong nửa đầu thế kỷ XX có những phố nổi tiếng về bán vải như Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Vải. Các phố may quần áo nổi tiếng là Hàng Trống, Hàng Gai. Bên cạnh các diễn biến về trang phục triều đình, sự hiện diện của các loại trang sức ở thành Thăng Long trong các tầng lớp nhân dân rất là phong phú. Một số phường ở kinh thành đã đặt tên, nói lên sự sầm uất của các sinh hoạt liên uan đến vấn đề trang phục. Hàng Giầy bán giầy dép. Hàng Đào vào ngày các chợ phiên, tấp nập người La Khê, La Cả đến bán the, lụa, lượt, là, người Mỗ bán lụa, người Bưởi bán lĩnh...
Bên cạnh trang phục, sự thanh lịch của người Hà Nội còn thể hiện ở nón mũ đội đầu. Đẹp nhất là nón làng Chuông, nhưng bộ quai thao làm duyên cho nón lại được làng Triều Khúc dệt. Vì thế, có câu ca:
"Hà Nội thì tết quai tua,
Có hai con bướm đậu vừa xung quanh".
Còn có nón mền giải, nón tam giang dành cho ông già, nón lá cho con nhà giàu, nón lá sen cho trẻ con, nón ba tầm.  Sau này, nhiều loại mũ cũng theo văn minh phương Tây vào Hà Nội. Có mũ cát, mũ lưỡi trai, mũ phớt, mũ nồi,...
Về mùa đông, vẻ duyên dáng của nam thanh nữ tú còn được tô điểm thêm các loại khăn đội đầu hay quấn cổ. Có khi là khăn nhiễu hay khăn nhung có thêm một đoạn độn tóc bằng vải để vấn quanh đầu. Sau này, các thiếu nữ Hà Nội thường có chiếc khăn san mỏng quấn hờ quanh cổ để làm đẹp nhiều hơn là để ấm. Nam giới có loại khăn đầu rìu hay khăn xếp. Bên cạnh việc đi giày sau này, còn phổ biến hơn cả là các loại guốc tre, guốc gỗ, dép quai ngang, dép mũ cong hình lá đề
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, ngoài những trang phục đã trở thành lễ phục của cả nước như áo dài cho phụ nữ, áo vest, sơ mi, quần Tây cho nam giới, người Hà Nội còn sáng tạo ra muôn vàn mốt quần áo mới thích hợp với mọi tầng lớp nhân dân và cũng chịu ảnh hưởng của thời trang quốc tế. Hà Nội đã trở thành 1 trong 2 trung tâm thiết kế và biểu diễn thời trang lớn nhất nước. Các tên phố liên quan đến trang phục tăng lên nhiều so với thời Lê: phố hàng Hài, phố hàng Nón, phố hàng Bạc, phố hàng Vải, phố hàng Chỉ, phố hàng Lược, phố hàng Bông, phố hàng Gai, phố Thợ Nhuộm v.v..., từ đây có thể khai thác được nhiều tư liệu về vấn đề trang phục.
Có nhà nghiên cứu đã cho rằng vấn đề Mặc thời phong kiến là "một phần của pháp chế". Ngày nay với mỗi người, mặc là một phần nhân cách, với xã hội đó là văn hóa, với lịch sử, đó là bước tiến văn minh. Trang phục đặc biệt đậm nét và lâu dài là nữ phục, là lĩnh vực mà bản sắc dân tộc biểu hiện và bảo lưu khá. Đây là một vấn đề văn hóa văn  minh dân tộc, giúp cho các thế hệ mai sau có cái nhìn cụ thể, chính xác hơn về quá khứ Thăng Long - Hà Nội và góp phần xây dựng đời sống văn hóa người Hà Nội.
Như một quy luật tất yếu của lịch sử, trang phục của người Thăng Long-Hà Nội đã có nhiều thay đổi qua từng thời đại. Tuy nhiên nét riêng độc đáo từ vẻ đẹp lịch sự, trang nhã trong phong cách ăn mặc và trong kiểu cách quần áo cùng với lối trang sức Hà thành  vẫn được bảo tồn như là một đặc trưng riêng của văn hóa Hà Nội, luôn được các thế hệ Hà Nội gìn giữ ngay cả trong thời chiến tranh gian khổ đến những năm bao cấp khó khăn hay trước cơn lốc ở thời kinh tế thị trường.
Nhìn lại quá trình lịch sử, trang phục của người Thăng Long - Hà Nội đã có nhiều thay đổi qua từng thời đại. Tuy nhiên cái vẻ đẹp lịch sự, tranh nhã trong phong cách ăn mặc và trong kiểu cách quần áo thì vẫn được bảo tồn như là một đặc điểm riêng của trang phục Hà Nội. Có nhà văn nói rằng, người Hà Nội trong bộ quần áo cần lao giản dị mà vẫn đượm vẻ phong lưu. Nơi mỗi vạt áo của những người con đất Thủ đô ấy dường như ta vẫn thấy hồn Thăng Long vương vất.

Sự tinh tế trong cách thưởng trà của người Hà Nội xưa

Mỗi cân trà, nghệ nhân Hà thành ướp cùng 1.000 -1.200 bông sen vì thế người nước ngoài đã không ít lần xuýt xoa trước nghệ thuật ướp trà cầu kỳ, tinh tế của người Hà Nội.

Ảnh:phache.net
Trong nghệ thuật ướp trà này, trà mạn hảo được ưa chuộng hơn cả. Nguyên liệu là trà Tuyết Shan cổ thụ vùng mạn ngược Hà Giang, mọc tự nhiên trên những dãy núi cao 800 -1.300 m, quanh năm sương phủ. Các nghệ nhân trà Hà Nội trân trọng, nâng niu từng búp trà này như một báu vật. Họ chọn lựa những búp non, những lá trà bánh tẻ rửa sạch, cho vào chõ đồ chín. Sau khi phơi khô, họ cho trà vào chum (vại), trên phủ một lớp lá chuối khô, ủ 3 - 4 năm cho trà phong hoá bớt chất chát, có độ xốp như giấy bản mà vẫn lưu giữ được hương vị đặc trưng.

Ảnh:vinacuoi.vn
Khi ướp, người ta rải một lớp trà rồi một lớp gạo sen mỏng, rồi lại một lớp trà, một lớp gạo sen. Cứ thế cho đến khi hết trà. Sau cùng, phủ một lớp giấy bản. Thời gian ướp tuỳ thuộc vào độ ẩm của gạo sen nhiều hay ít, thường từ 18 -24 giờ. Sau đó, đem sàng để loại bỏ những hạt gạo sen. Sàng loại xong, trà được đóng vào những chiếc túi làm bằng giấy chống ẩm để giữ lấy cả hương sen lẫn hương trà, rồi sấy cho đến khi cánh trà khô, hương sen quyện thì bỏ ra. Lại ướp một lần sen thứ hai, thứ ba, thậm chí thứ tư, thứ năm tuỳ thuộc vào sở thích của người thưởng trà đậm hay nhạt. Càng ướp nhiều lần thì hương sen càng quyện, trà càng thơm. Trung bình, mỗi cân trà  ướp cần từ 1.000 -1.200 bông sen. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, mỗi 1kg trà sen thời xưa được đổi bằng 2 -3 chỉ vàng mà người sành trà vẫn nao nức lùng mua bằng được.

Ảnh:vnthuquan.net
Với người Hà Nội, uống trà là một thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, người ta phải để vào đó nhiều công phu. Những công phu đó, dần trở thành lễ nghi. Trong ấm trà ngon, người ta thấy phảng phất một mùi thơ và một vị triết lý. Các trà nhân từ xưa rất chú ý đến nghệ thuật thưởng trà với nhiều loại trà cụ (dụng cụ pha trà) cần thiết để làm sao cho người uống cũng có thể cảm nhận và thể nghiệm giống như các thiền sư. Dùng thìa gỗ múc trà cho vào ấm đất nung nhỏ, được gọi là “Ngọc diệp hồi cung”.
Để có được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm nóng lên bằng nước sôi. Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ thơm. Khi châm nước lần một gọi là “cao sơn trường thuỷ” rồi chắt ngay ra. Đây là thao tác tráng trà nhằm loại hết bụi bẩn và cho trà khô kịp thấm không nổi lềnh bềnh. Lần thứ hai đổ nước vào ấm gọi là “hạ sơn nhập thuỷ” nên đổ nước cao, tràn miệng bình để khi đậy nắp lại, bụi trà tràn ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp để giữ nhiệt độ cao nhất cho ấm trà. Nước hai chính là nước ngon nhất được tạo ra trong vòng 1-2 phút, có hương vị đượm đà, thơm tho quyến rũ. Khi rót trà phải chuyên đều các chén sao cho nồng độ trà như nhau bằng cách kê khít miệng chén lại và đưa vòi ấm quay vòng. (Cách phổ biến trong truyền thống là rót ra chén tống (chén hạt mít) rồi chia đều ra các “chén quân”. Cách này ngày nay ít dùng vì phần làm nguội trà, phần hương trà phôi pha.
Dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón chỏ và cái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc”. Người dâng trà và người nhận đều phải cung kính cúi đầu. Trước khi uống, đưa chén trà sang tay trái, mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải “du sơn lâm thuỷ”. Khi uống, cầm chén trà quay lòng bàn tay vào trong, dâng chén trà lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng nháp nháp từng ngụm nhỏ nhẹ. Tay áo các quan lại phong kiến thường rất rộng cũng một phần vì lẽ dùngche miệng khi uống trà là vậy. Che miệng khi ăn, uống, cười trong chèo, tuồng, trong đời sống người Việt xưa chính là một hành vi văn hoá. Người uống cũng phải chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời đọng trong cổ họng, nuốt tý nước bọt lần một, lần hai, lần ba để cảm nhận.

Ảnh:baovietnam.vn
Ngoài cách uống trà trong gia đình, người Hà Nội xưa còn có các hình thức Hội trà, uống trà thưởng hoa đầu năm, uống trà thưởng hoa quý và uống trà ngũ hương. Trong đó, hội trà là hình thức tụ họp cùng thưởng trà khi có trà ngon hay dịp đặc biệt của các cụ. Thưởng trà đầu xuân là thói quen của riêng các bậc tao nhân chốn kinh thành xưa. Thường thì trước Tết, đích thân các cụ đi chọn mua hoa đào, cúc, mai trắng, thuỷ tiên ở tận vườn, chuẩn bị loại trà ngon nhất. Sáng mùng một, con cháu dành riêng cho cụ những giây phút đầu tiên để tịnh tâm và ngắm hoa, thưởng trà, sau đó mới là cả đại gia đình cùng ngồi quanh bàn trà chúc thọ cụ và nghe lời dặn dò.

Ảnh:vefac.vn
Uống trà thưởng hoa quý như hoa quỳnh, hoa trà cũng là cái thú của nhiều người Tràng An. Đó cũng là hình thức hội trà quanh chậu hoa quý vào tối hoa mãn khai của những người cao tuổi, đàm đạo thế sự, văn chương và dặn dò lớp con cháu.

Ảnh:phache.net
Trà ngũ hương chỉ giới hạn cho 5 người. Khay uống trà ngũ hương phải thửa 5 chỗ trũng để 5 loại hoa đang độ đượm hương nhất: cúc, sói, nhài, sen, ngâu và úp các chén kín hoa, bưng khay để lên nồi nước sôi cho hương hoa bám vào lòng chén. Pha trà mạn ngon và rót đều vào từng chén, mỗi người tham gia sẽ phải đoán hương trà trong chén của mình và cùng nhận xét. Sau mỗi chén trà, người chủ trà lại hoán vị hương để ai cũng được thưởng thức hết cái tinh tuý của hội trà ngũ hương.

Ốc nóng lòng chấm lẫn cả nhớ thương

Hà Nội đầu đông và câu nói tôi được nghe nhiều nhất là: Đi ăn ốc nóng không? Ốc nóng – món ăn không chỉ có ở Hà Nội vào mùa đông nhưng có lẽ chỉ đến khi cơn gió giao mùa mang theo sự hanh hao của mùa thu chen giữa một chút rét run thì món ốc mới thực sự lên ngôi cả về hương vị và cả về sự chiếm lấy cảm tình của thực khách.
Hà Nội lúc giao mùa gợi cho người ta thật nhiều cảm xúc. Trên những con phố vẫn nồng nàn hương hoa sữa, nắng vẫn vàng tươi trên những nóc nhà nhưng gió thì lạnh thật lạnh. Trên nền một không gian Hà Nội đẹp, nên thơ như vậy khiến mỗi người như trầm tư hơn và thích lãng đãng hơn. Có lẽ vì vậy mà bạn bè tôi thích tụ họp hơn vào dịp này tại quán ốc nóng. Chỉ là mấy chiếc ghế nhựa quay lại cùng nhau, gọi mấy bát ốc thế là những câu chuyện nối dài. Món ốc nóng kết nối mọi mẩu chuyện không đầu không cuối, vu vơ, cộc lốc hoặc lan man của chúng tôi.

Điểm đặc biệt nhất của món ốc nóng chính là nước chấm. Có vị cay ấm của gừng, vị cay nồng của sả, mùi thơm của lá chanh, một chút chua chua, một chút ngọt ngọt và một chút ớt cay. Đầy đủ gia vị của cuộc sống. Cắn miếng ốc giòn giòn, hít hà vị cay tê tê ở đầu lưỡi với xung quanh là bạn bè và ngoài kia là gió miên man – một cảm giác thật khó diễn tả bằng ngôn từ mà chỉ có thể bằng cảm xúc của 5 giác quan cộng với một trái tim ấm nóng. Người ta thường nói món ăn có tác dụng làm no hoặc tốt cho sức khỏe của con người nhưng riêng tôi nghĩ rằng điểm đặc biệt nhất của món ăn là kết nối con người và khơi gợi cảm xúc. Món ốc nóng khiến tôi nhớ đến hương vị của đồng ruộng, của ao hồ. Tất cả các hương vị bình dân như lá bười, lá chanh, gừng, sả, ớt …hòa quyện với nhau tạo thành một cảm giác thân thương, bình yên và nhung nhớ.

Nhớ một thủa chân trần chạy nhảy. Nhớ người bạn cũ một thời chấm chung bát nước chấm ớt gừng giờ xa ngái. Nhớ có những sáng đầu mùa một mình tôi trên con phố thênh thang. Nhớ có những lúc mơ mùa đông về giữa ngày hạ nắng cháy. Những nỗi nhớ không thành tên, không đầu không cuối, không có hình hài…Có lẽ chỉ món ốc nóng Hà Nội mùa đông mới gợi cho tôi nhiều cảm xúc như vậy.
Hà Nội bây giờ là một không gian thật rộng lớn. Nhưng trong những ồn ào, xô bồ, tấp nập, bon chen, nhớm nháp lại có một góc bé thi vị mà không cần mất nhiều công tìm kiếm. Chỉ cần cảm nhận bằng cảm xúc: thấy thích, thấy yêu, thấy nhớ thì thích, thì yêu, thì nhớ. Hà Nội đầu đông và câu nói tôi được nghe nhiều nhất là: Đi ăn ốc nóng không? Ốc nóng – món ăn không chỉ có ở Hà Nội vào mùa đông nhưng có lẽ chỉ đến khi cơn gió giao mùa mang theo sự hanh hao của mùa thu chen giữa một chút rét run thì món ốc mới thực sự lên ngôi cả về hương vị và cả về sự chiếm lấy cảm tình của thực khách.

Thanh lịch bản chất của lời nói, việc làm

     

      Kể từ khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra “thành Đại La ở nơi trung tâm trời đất” đến nay đã một nghìn năm. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, lớp lớp cư dân ở mọi miền quê về cư tụ sinh sống ở mảnh đất này, chung sức sáng tạo nên một nền văn hóa mang đậm bản sắc của vùng đô hội. Thủ đô Hà Nội được biết tới với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng.
Con người và văn hóa Hà Nội đã nghìn năm tích tụ, nghìn năm tỏa sáng. Phẩm chất thanh lịch của người Hà Nội được nhiều người biết đến và đi vào câu ca dao xưa.
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”
“Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu”
Thanh lịch từ lời nói, nụ cười
Thanh lịch là một lối sống ứng xử mang giá trị văn hóa. Thế nào là “Thanh lịch”? Hai tiếng “Thanh lịch” bao hàm nghĩa rộng của cả một phong cách sống cao đẹp, từ trong nhà ra ngoài xã hội, từ cách ăn, mặc, ở, đi đứng, bên cách giao tiếp ứng xử giữa người với người, với tinh thần tự trọng mình và tôn trọng mọi người trong cộng đồng.
“Thanh” là cách suy nghĩ biết trọng điều thanh cao trong tư tưởng, tình cảm, tâm hồn, cao thượng mà vẫn gần gũi, bình dị, không ích kỷ, nhỏ nhen tầm thường. Thanh liêm đối với của cải xã hội và của người khác. Thanh đạm, thanh bạch trong cuộc sống đời thường. Thanh nhã trong thái độ, cử chỉ, hành vi, nói năng.
“Lịch” là sự lịch lãm, có nghĩa là xem nhiều, quan sát nhiều. Lịch duyệt là người hiểu biết rộng. Lịch thiệp là đã từng đi nhiều, thành thạo trong giao tiếp. Lịch sự là thể hiện cách ứng xử văn hóa, văn minh, thân thiện.
Muốn có “Thanh” thì con người phải rèn luyện. Còn “Lịch” là do sự từng trải, biết sàng lọc tích lũy kinh nghiệm trường đời mà có. Cho nên, “Thanh lịch” phải đi liền mới đầy đủ và trọn vẹn ý nghĩa. Bởi vì trong thực tế cuộc sống, có người chỉ “Thanh” mà không “Lịch”, có người chỉ “Lịch” mà không “Thanh”.
Vậy, ứng xử nào của người Hà Nội được xem là thanh lịch? “Thanh lịch” của người Hà Nội trước hết thể hiện ở tiếng nói gắn với thái độ, cử chỉ. Người Hà Nội xưa ăn nói nhỏ nhẹ, lịch sự, kín kẽ, tế nhị, không to tiếng. Tiếng nói Hà Nội là tiêu biểu cho tiếng nói Việt Nam, nó không chỉ thể hiện ở tính chuẩn xác cao, phát âm mẫu mực, mà còn ở chỗ biết sử dụng một cách linh hoạt, lưu loát, nhã nhặn, tế nhị. Tóm lại là cách nói có duyên, hấp dẫn người nghe. Tiếng nói Hà Nội luôn có những từ nền nã, biết nhún mình, khiêm nhường, tôn trọng người. Lời đẹp ý hay mà không khách sáo, giả tạo. Mềm mỏng mà không yếu hèn, tài hoa mà không khoe khoang, khoác lác, hiểu rộng mà không ngạo mạn kiêu kỳ, kiên quyết mà không nôn nóng bực bội, giản dị mà không luộm thuộm cẩu thả, kính trọng mà không nịnh bợ cúi luồn.
Người được coi là thanh lịch là những người sành ăn, mặc, biết “ăn ngon, mặc đẹp”. Với sự tài hoa, người Hà Nội đã góp phần làm phong phú văn hóa ẩm thực của Việt Nam với những hương vị khó quên của món cốm Làng Vòng, chả cá Lã Vọng, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Hồ Tây và đặc biệt là món phở Hà Nội. Những món ăn quen thuộc này, dưới bàn tay khéo léo của họ đã trở thành nghệ thuật ẩm thực được nhiều người thán phục.
Phở Hà Nội
Trong cuốn “Phố phường Hà Nội xưa”, nhà nghiên cứu Hoàng Đạo Thúy đã nhận định: “Người Hà Nội chuộng lối sống khoan hòa, giản dị”. Họ không chấp nhận sự thô thiển, xô bồ, hay lai căng trong lời nói cũng như cách ứng xử mọi mặt của cuộc sống. Người Hà Nội sống nhân nghĩa với bạn bè, coi trọng tôn ti, lễ nghĩa, hiếu thuận với ông bà cha mẹ, hào hoa, khiêm nhường… Với lối sống gần gũi, chan hòa, tinh tế, họ giành được nhiều tình cảm của người dân trên mọi miền Tổ quốc.
Từ lâu, “Thanh lịch” đã trở thành nét đặc trưng trong tính cách của người Hà Nội được nhiều người biết đến. Phẩm chất đó đã góp phần làm nên nền văn hiến đất Hà Thành, tiêu biểu cho văn hóa Việt Nam cả hôm nay và mai sau.
Với nhịp sống sôi động hiện nay, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, đặc biệt là việc mở rộng địa giới Hà Nội ra một số tỉnh lân cận và dòng người nhập cư đổ về Hà Nội ngày càng đông, khiến dân số Hà Nội trong những năm gần đây tăng vọt. Hiện nay, dân số Thủ đô đã tăng gấp 10 lần so với năm 1954. Thành phố nhỏ bé trở nên quá tải, lối sống, đạo đức, văn hóa ứng xử có sự pha tạp.
Đồng thời, nền kinh tế thị trường với những tác động tiêu cực của nó cũng góp phần ảnh hưởng tới sự thanh lịch của người Hà Nội. Những biểu hiện thiếu văn hóa trong cuộc sống thường ngày làm nhức nhối những ai yêu Hà Nội. Mong sao các cấp, các ngành, gia đình và xã hội hãy biết trân trọng, gìn giữ và phát huy những nét đẹp văn hóa trong đó có phẩm chất thanh lịch của người Hà Nội. Để Hà Nội xứng đáng không chỉ là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của cả nước, Thành phố vì hòa bình, mà còn là “Thủ đô của phẩm giá con người” như lời bạn bè quốc tế đã từng nói về Hà Nội.

Bài đăng Phổ biến

Nhãn