8 – 3 ngày tôn vinh. Dịp này cũng không ít các ông chồng chạnh lòng nghĩ về mình. Những ông bị ví nhu nhược như Thúc Sinh cũng được dịp " quạo" lại. Nguyễn du mô tả Thúc sinh như một kẻ "quen nét bốc rời, trăm nghìn đổ một trận cười như không" kia mà.
KHẨU KHÍ THÚC SINH
Thúc sinh vốn là nho sĩ nhưng lại bỏ "sĩ" theo thương. Buôn bán là nghề, nhưng "nghiệp" của chàng cũng thương "sớm mận tối đào", " hương sớm trà trưa" trong hành viện. mê mệt vì Kiều.
"Trước còn trăng gió, sau ra đá vàng", Thúc quyết định ra tay nghĩa hiệp, đưa nàng ra khỏi chốn lầu xanh . "Trăm điều hãy cứ trông vào một ta" Sợ vợ ở đâu không biết, trước gái đẹp thì hèn như Thúc cũng liều nhau, ông nào cũng vỗ ngực không sợ "hàm sư tử"
MƯU LƯỢC CỦA TAY CHƠI
Kiều đang là mỏ vàng, dễ gì Tú Bà chịu nhả. Thúc dấu Kiều đi một nơi mới tuyên chiến với Tú Bà, dọa sẽ kiện về tội "mãi lương vì xướng", mua con nhà lương thiện để làm con hát. Rắn như thế, nhưng lại mở lối thoát: đánh tiếng xin chuộc Kiều. Tú Bà bị lùa và thế không khéo mất cả chì lẫn chài, vừa mất người lại vừa đi tù, đành cắn răng chấp nhận yêu sách của Thúc. Đôi bên đưa nhau ra cửa quan làm giấy. Thế là xong. Thúc dắt Kiều về nhà, "càng về sâu nghĩa bể, càng dài tình sông"
Thế mới hay " nhu nhược" mà cao mưu.
THÀ RẰNG BẤT HIẾU…
Mặn nồng đâu được nửa năm, thì Thúc ông từ quê trở về. Thấy con lấy gái làng chơi làm vợ, ông bố nổi cơn sấm sét, bắt phải trả ngay Kiều về lầu xanh. Năn nỉ không được, Thúc liền bẩm vẫn " chung thủy với vợ con mà sắt son với bồ bịch" thà cùng chết chứ không bỏ Kiều.
Thúc ông điên tiếc, lôi cả hai ra cửaquan. Viên quan " mặt sắt đen sì" xỉ ngay Thúc là loại " dại nết chơi bời", và Kiều là loại gái "đong đưa". Quan phán, hoặc Kiều phải chịu đòn, hoặc trở lại lầu xanh. Kiều xin chịu đòn. Thúc đứng ra nhận hết tội về mình, "tại sao hứng lấy một tay". Và thúc quay ngay sang chuyện khác, rằng Kiều cũng là người chữ nghĩa ít nhiều…
Quan thử tài thơ của Kiều. Thế là mắc bẫy! Phục tài Kiều, quan cao hứng tuyên bố, cặp uyên ương Thúc - Kiều " Thực là tài tử giai nhân" "Làm chỉ lỡ nhịp cho đờn ngang cung".
Một con người hào hịep như vậy, mưu trí như vậy, biết nhu biết cương, biết tiến biết thoái để bao bọc người tình, thì trách nào kiều lại không mềm lòng.
Chẳng biết lúc này, Kiều còn có chút vương vấn đá vàng nào với người tình đầu tiên là Kim Trọng, chứ còn 6 tháng liền sau đó , lúc tiễn Thúc về nhà thăm vợ, Kiều lưu luyến " Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh".
Nguyễn Du cũng cảm thán nỗi ly biệt cho đôi uyên ương này " Vầng trăng ai xẻ làm đôi nửa soi dặm đường".
Tiếc thay, sau này trong cuộc " hội ngộ " éo le tay ba giữa Thúc -Kiều - Hoạn, Thúc đã không còn bản lĩnh, không dàn xếp nổi (đúng hơn là không dám dàn xếp) chuyện nhà, dù rằng trai năm thê bẩy thiếp ngày xưa là chuyện thường tình.
Thúc chỉ một lần lén lút sau lưng Hoạn Thư, than thở với Kiều" Lòng người nhâm hiểm" và mưu trí sau cùng là, Kiều nên "liệu mà xa chạy cao bay ". Thúc đã chẳng từng thủ đoạn với bợm già Tú Bà đấy sao? Chẳng từng đấu tranh quyết liệt với nghiêm đường đòi tự do luyến ái đấy sao? Lại chẳng lượn lờ với nhà quan để bảo vệ người tình đấy sao? Thúc say mê Kiều chân thành, nhưng không dám vượt qua một chị vợ ranh mãnh Hoạn Thư. Thúc khôn chợ dại nhà?.
Lý giải cho tính hai mặt của Thúc sinh, phải chăng đó là bi kịch cảu đời thường, và hơn nữa phải chăng, Thúc Sinh, cũng như Từ Hải sau này, là đôi nét chấm phá, lúc khoan lúc nhặt cho Kiều đi trọn kiếp phong trần?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét